Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ THEO HƯỚNG TÍCH CỰC 1. Những vấn đề chung về phương pháp dạy học 1. Dạy học - Khái niệm phương pháp dạy học + Phương pháp là con đường, cách thức tiến hành một việc gì đó. + PPDH là những cách thức làm việc giữa thầy giáo và HS, nhờ đó mà HS nắm vững được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành được thế giới quan và năng lực.
Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định. Từ khái niệm trên ta thấy phương pháp có cấu trúc phức tạp, bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được). PPDH là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của GV và của HS nhằm đạt được mục đích dạy học.
Nói cách khác PPDH là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của HS nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích DH. 11 PPDH bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy. Từ đó có thể nhận thấy đặc trưng của PPDH: người học là đối tượng tác động của giáo viên, đồng thời là chủ thể, là nhân cách mà hoạt động của họ (tương ứng với sự tác động của người giáo viên) phụ thuộc vào hứng thú, nhu cầu, ý chí của họ. Nếu giáo viên không gây cho HS có mục đích tương ứng với mục đích của mình thì không diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học và phương pháp tác động không đạt được kết quả mong muốn.
Vì vậy, cấu trúc của PPDH trước tiên là mục đích của GV đề ra và tiến hành một hệ thống hành động với những phương tiện mà họ có. Dưới tác động đó của người GV làm cho người học đề ra mục đích của mình và thực hiện hệ thống hành động với phương tiện mà họ có nhằm lĩnh hội nội dung dạy học. Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu về PPDH như sau: PPDH là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của HS nhằm đạt được mục đích dạy học. Nói cách khác PPDH là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của HS nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học.
PPDH là tổ hợp những biện pháp với tư cách là những thành phần cấu trúc của nó, song việc phân như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối. Chẳng hạn giảng giải là PPDH trong tiết học lĩnh hội tri thức mới nhưng lại là một biện pháp của phương pháp công tác trong phòng thí nghiệm. Điều đó có nghĩa là trong những điều kiện nhất định, chúng có thể chuyển hoá lẫn nhau [12],[14],[15]. Phương pháp dạy học “Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh trong phạm trù hoạt động dạy và học nhằm mục đích giáo dục, trau dồi học vấn cho thế hệ trẻ” [12],[14].
Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống và thay vào đó là các PPDH hiện đại, bởi vì các phương pháp dạy học truyền thống vẫn rất cần thiết trong quá trình dạy học. Đổi mới PPDH phải tìm ra cách vận dụng và phối hợp các PPDH một cách linh hoạt nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập. Cần kế thừa, phát huy những mặt tích cực của các phương pháp truyền thống; đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy học ở nước ta hiện nay. Đổi mới PPDH không chỉ là đổi mới PP dạy (cách dạy) của GV mà còn phải quan tâm đến PP học (cách học) của trò, dạy “cách tự học” cho học sinh.
Cần đa dạng các hình thức dạy - học (cá nhân, theo nhóm, theo lớp, học trong lớp, thực tế,.) nhằm hình thành và phát triển ở HS khả năng sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp. Đổi mới PPDH chú ý tới đặc trưng về nội dung và phương pháp của môn học. Đổi mới PPDH phải đi đôi với đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS, bởi đánh giá kết quả học tập của học sinh là một thành tố của quá trình dạy học. Định hướng đổi mới PPDH đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục (2005), điều 23.
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. 13 Theo định hướng chung của đổi mới PPDH là: “Tích cực hóa hoạt động của HS”. Tích cực ở đây là tích cực trong hoạt động nhận thức, tích cực trong tư duy, tích cực một cách chủ động. Điều đó có nghĩa là HS chủ động trong toàn bộ quá trình phát hiện, tìm hiểu và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.
Như vậy, cốt lõi của đổi mới PPDH là giúp học sinh hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động [12],[14]. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học - Thứ nhất, xuất phát từ những đòi hỏi của sự phát triển xã hội: Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của CNTT&TT, kiến thức không còn là tài sản riêng của giáo viên. Học sinh có thể tiếp cận thông tin từ nhiều kênh, nguồn khác nhau. Các nguồn thông tin phong phú đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới cách dạy và cách học.
Công nghệ thông tin không chỉ có chức năng cung cấp thông tin mà nó còn là công cụ hỗ trợ tích cực trong dạy và học, là phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu quả. Công nghệ thông tin giúp cho người học mở rộng hiểu biết với tầm nhìn xa, trông rộng qua hệ thống Internet kết nối trong nước và toàn thế giới [2],[18],[20],[22]. Vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh có thể làm chủ, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Đó thực sự là những thách thức lớn đối với ngành Giáo dục nói chung, nhà trường, giáo viên nói riêng.
Giáo viên không chỉ là người mang kiến thức đến cho học sinh mà còn dạy cho học sinh cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo cho việc tự học suốt đời. - Thứ hai, xuất phát từ những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế: Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra là từ nay đến năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại. Mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực 14 lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng, có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng công việc với hiệu quả cao [2],[18],[20],[22].
Đáp ứng yêu cầu trên, người lao động phải năng động, sáng tạo, có kiến thức và kĩ năng mang tính chuyên nghiệp, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm. Dám chịu trách nhiệm là một trong những yếu tố quan trọng của người lao động và là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức kinh doanh. Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề. Cách giải quyết vấn đề linh hoạt, sáng tạo trước các tình huống khó khăn phức tạp của cuộc sống và sự dám chịu trách nhiệm không phải là những phẩm chất sẵn có ở mỗi con người mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục.
Như vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Ngành giáo dục phải không ngừng đổi mới trong đó cần quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. - Thứ ba, những đòi hỏi khi tính đến đặc điểm tâm - sinh lí của người học: Công nghệ số có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống xã hội của học sinh ngày nay. Internet có mặt khắp nơi, điện thoại di động, truyền thông đa phương tiện (MSM), dịch vụ tin nhắn ngắn (SMS), email,.đang ngày càng có ảnh hưởng lớn tới sự truyền đạt thông tin.
Trẻ em ngày nay thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc độ chóng mặt, mỗi trẻ em có khả năng tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau. Việc sử dụng công nghệ mới khiến trẻ có khả năng giải quyết vấn đề và xử lí nhiều thông tin cùng một lúc. Đây là điểm khác biệt của trẻ em Việt Nam ngày nay với trẻ 15 em Việt Nam cách đây vài thập kỉ.