CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1. Tổng quan về dạy học theo dự án 1. Lịch sử về sự ra đời và phát triển của dạy học theo dự án Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đã đề ra. Theo sự giải thích của các nhà khoa học thì DHTDA có nguồn gốc từ khái niệm DA trong lĩnh vực kinh tế, xã hội được đưa vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo và được sử dụng như một PP hay hình thức dạy học [25].
Từ cuối thế kỷ XVI, ở Italia người ta đã sử dụng khái niệm dự án trong dạy học ở các trường dạy nghề kiến trúc [3], rồi tiếp đó là ở Pháp. Đến thế kỷ XVIII nhờ các ảnh hưởng của các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, tư tưởng của DHTDA đã lan truyền sang nhiều nước ở châu Âu và châu Mỹ, áp dụng dạy học trong một số trường đại học: Ở đó mỗi dự án đòi hỏi sinh viên phải được thực hiện một nhiệm vụ là thiết kế và gia công một sản phẩm kĩ thuật. Để làm được sinh viên phải phát huy tính tự lực cao, phải vận dụng tốt những kiến thức và kỹ năng đã được trang bị [16, p7]. Mãi đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, DHTDA mới được đưa vào sử dụng trong nhà trường phổ thông ở Mỹ trong phong trào cải cách giáo dục lấy HS làm trung tâm.
Các nhà sư phạm hồi bấy giờ mới xây dựng cơ sở lí luận cho phương pháp dự án, coi đây là một PPDH lấy HS làm trung tâm, có thể khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống vẫn đặt GV là trung tâm của quá trình dạy học, mà nền móng của nó là những quan điểm triết học giáo dục và lý thuyết nhận thức của J. Lúc đầu phương pháp này chủ yếu sử dụng trong dạy học thực hành các môn kĩ thuật, mĩ thuật.về sau đã được sử dụng rộng rãi ở các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Còn ở Nga, sau năm 1917 các loại hình trường học của Makarenko, Blonxki, trong đó học sinh được giao những công việc mà họ phải lao động tự lực để hoàn thành, là những mô hình giống như DHTDA. 6 Do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cải cách giáo dục lấy HS làm trung tâm lắng xuống một thời gian dài.
Nhưng từ những năm 70 của thế kỉ trước, trào lưu cải cách giáo dục mới ở phương Tây đã tạo ra sự phát triển mới của DHTDA và được nghiên cứu, sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay, DHTDA được các nhà sư phạm nghiên cứu, sử dụng với những tên gọi khác nhau, quan niệm khác nhau, như phương pháp DHTDA, mô hình DHTDA, hình thức DHTDA hoặc quan điểm DHTDA, nhưng nó cũng đã được các nước sử dụng rộng rãi, ứng dụng ở tất cả các cấp học - bậc học, từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến đào tạo đại học, đào tạo nghề. Các công trình nghiên cứu dạy học theo dự án trên thế giới. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu lí luận cũng đã ủng hộ việc áp dụng DHTDA trong trường học để khuyến khích học sinh giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kĩ năng hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập (Quĩ giáo dục George Lucas (2001)) - Đại diện cho các trào lưu này là John w.
Thomas (1998) với Dạy học theo dự án - Tạo hứng thú cho việc học [18], và John w. Năm 1918 nhà tâm lí học William H. Kilpatric (1871 - 1965) có bài báo với tiêu đề “Phương pháp dự án’’ đã gây một tiếng vang lớn trong các nhà trường. Theo Kilpatric, một DA là một hoạt động có mục đích cụ thể, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong một môi trường xã hội.
Celestin Freinet (1896-1966) là người tiên phong ở châu Âu đối với dạy học bởi dự án. Theo ông, lớp học dự án trước tiên là nơi phải áp dụng các cách làm việc để nghiên cứu các thông tin, trao đổi các ý kiến hoặc trả lời thư nhận được từ các lớp học sinh khác, chuẩn bị điều tra, phân tích dữ liệu, trình bày các bài báo,.Trong một lớp học như thế, sự hợp tác ở bên trong nhóm rất phong phú. Theo Quỹ Giáo dục George Lucas (2001) thì các nghiên cứu lí luận đã cho thấy việc dạy học theo dự án trong trường học có thể khuyến khích HS học tập, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kỹ năng hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập. 7 Đối với GV, theo Thomas, lợi ích mà Dạy học theo dự án mang lại là nâng cao tính chuyên nghiệp và hợp tác với đồng nghiệp, hợp tác với học sinh [19].
Bên cạnh đó, GV sử dụng phương pháp này sẽ có nhiều thuận lợi trong việc dạy các đối tượng HS khác nhau. Theo Boaler, trong các lớp học dạy theo dự án HS trội hơn HS ở các lớp khác về hai điểm: trả lời các câu hỏi về khái niệm và giải quyết vấn đề GV đặt ra. Theo ông “HS trong các lớp học truyền thống phát triển kiến thức thụ động mà họ cho rằng không có ích lợi gì trong thực tế”. Trong khi đó, “HS được dạy theo kiểu dạy học dự án cởi mở hơn, tiến bộ hơn thì phát triển vốn kiến thức linh hoạt và có ích lợi hơn để áp dụng vào nhiều hoàn cảnh khác nhau” [1].
Ngày nay DHTDA được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lý luận về dự án DHTDA, tuy nhiên đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau. Các công trình nghiên cứu dạy học theo dự án tại Việt Nam Ở Việt Nam, trong đào tạo đại học các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng. Hiện nay các hình thức tiểu luận, chuyên đề… thực hiện trong các trường đại học nói chung có hình thức giống như PPDA.
Trong các hình thức này, có một điểm chung giống nhau là sinh viên thực hiện nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu một cách tự lực dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Trong giáo dục phổ thông, sau ngày đất nước thống nhất 1975, ở các trường phổ thông cũng có những nhiệm vụ lao động của học sinh gần gũi với DHDA. Đặc biệt trong những năm 1980, cùng với sự phát triển của phong trào hướng nghiệp, nhiều trường đã thực hiện các dự án như dự án trồng cây, dự án cầu đường nông thôn, dự án phát triển nông ngư nghiệp… Tuy nhiên các hình thức đó chỉ đơn thuần mang tính chất lao động thực tiễn, chưa có những lý thuyết hay nghiên cứu về DHDA của các nhà quản lý giáo dục. Trong cuốn “Các kiểu tổ chức dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông”, NXB Đại học sư phạm - 2011, Đỗ Hương Trà đã trình bày cách phân chia tiến trình DHTDA theo 5 giai đoạn.
Đặc biệt tác giả đã đề xuất các bước chuẩn 8 bị của giáo viên và học sinh cho một dự án học tập. Theo tác giả, để tổ chức dạy học dự án, GV cần chuẩn bị các bước: (1) Triển khai bài học thành dự án; (2) Xây dựng bộ câu hỏi định hướng bài dạy; (3) Thiết kế dự án [21]. Nguyễn Thị Diệu Thảo, “Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên THCS môn công nghệ”, luận án tiến sĩ - Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2009. Luận án nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của DHTDA trong đào tạo GV kinh tế gia đình, đề xuất được các phương án vận dụng, xác định được các dạng DA đặc thù và xây dựng tiến trình DHTDA trong đào tạo GV kinh tế gia đình.
Theo Đỗ Hương Trà, Phùng Việt Hải (2008), tiến trình DHDA đã được các tác giả làm rõ các pha, đưa thêm giai đoạn xác định các nguồn lực cần thiết (pha 1) là những điểm mới của lí luận DHDA[20]. Trần Anh Tuấn (2012), “Dạy học theo dự án”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt (11/2012). Theo tác giả, cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống. Tác giả Trần Văn Thành [15] đã nghiên cứu, vận dụng các quan điểm của DHDA tổ chức quá trình dạy học một số kiến thức Điện từ học, Vật lí 9, THCS, đồng thời đề xuất quy trình DHDA các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí.
Theo tác giả, quy trình này nhấn mạnh đến việc phát triển năng lực HS về nhận thức và tư duy. Từ năm 2005 cũng đã có nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu tổ chức DHDA trong dạy học Vật lí. Có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu sau đây: như Trần Thị Thúy Hằng (2006), với Tổ chức dạy học dự án một nội dung kiến thức chương “Sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng” theo sách giáo khoa Vật lí 9 nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập, luận văn thạc sĩ giáo dục học, Đại học sư phạm Hà Nội; Tổ chức dạy học dự án một nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” - Sách giáo khoa Vật lí 11 nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập của luận văn thạc sĩ giáo dục Đào Thị Thu Thủy (2009); Tổ chức dạy học dự án “Sử dụng năng lượng nhiệt mặt trời” cho học sinh lớp 11 của luận văn thạc sĩ giáo dục Nguyễn Cao Cường 9 (2009); Tổ chức dạy học dự án các nội dung kiến thức chương “Mắt. Các dụng cụ quang học”- Sách giáo khoa Vật lí 11 luận văn thạc sĩ giáo dục của Trần Thị Hải (2009); Tổ chức dạy học dự án một nội dung kiến thức chương “Chất rắn và chất lỏng.
Sự chuyển thể” - Sách giáo khoa Vật lí 10 cơ bản luận văn thạc sĩ giáo dục của Nguyễn Thị Phương Dung (2009).