CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Sơ lược về Lý thuyết kiến tạo Như đã nêu, Lý thuyết phát triển nhận thức của Piaget là một lý thuyết toàn diện về bản chất và sự phát triển trí thông minh của con người. Nó được tạo ra lần đầu tiên bởi nhà tâm lý học phát triển Thụy Sĩ Jean Piaget (1896–1980) bằng các công trình nghiên cứu từ 1975 – 1977[12]. Lý thuyết đề cập đến bản chất của tri thức và cách mà con người dần dần đạt được, xây dựng và sử dụng nó.
Các quan điểm chủ đạo của LTKT: - Tri thức không phải truyền thụ từ người biết tới người không biết mà tri thức được chính chủ thể xây dựng thông qua hoạt động. Đó là quá trình cá nhân tự tổ chức các hành động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới dạng sơ đồ hay cấu trúc nhận thức. Cấu trúc nhận thức bao gồm một lớp các thao tác giống nhau theo một trật tự nhất định. Dưới dạng chung nhất, cấu trúc nhận thức có chức năng tạo ra sự thích ứng của cá thể với các kích thích của môi trường.
- Quá trình phát triển nhận thức phụ thuộc trước hết vào sự trưởng thành và chín muồi các chức năng sinh lí thần kinh của trẻ em, vào sự luyện tập và kinh nghiệm thu được thông qua hành động với các đối tượng, vào tương tác của các yếu tố xã hội và vào tính chủ thể và sự phối hợp chung của hành động. Chính yếu tố chủ thể làm cho các yếu tố trên không tác động riêng rẽ, rời rạc chúng được kết hợp với nhau trong một thể thống nhất trong quá trình phát triển của trẻ em. - Nhận thức của con người là quá trình thích ứng với môi trường qua hai hoạt động đồng hoá và điều ứng. + Đồng hoá : Đồng hoá là quá trình HS vận dụng những tri thức đã có, không phải tổ chức lại, cấu trúc lại những tri thức đó để nhận thức hay giải quyết vấn đề.1: Sau khi học xong định nghĩa phương trình tham số của đường thẳng, GV yêu cầu HS giải bài tập: “Viết phương trình tham số đường thẳng d đi qua điểm M(2;1) và vuông góc với đường thẳng ∆: 3x + y - 1 = 0.” Khi đó HS cần tìm: - Điểm mà d đi qua - Một véc tơ chỉ phương của d - Đường thẳng d đi qua M 0 ( x0 ; y0 ) có VTCP u ( a; b ) có phương trình tham x = x0 + at số là y = y0 + bt Từ đó HS thự hiện được lời giải của bài toán: - Đường thẳng d đi qua M (2;1) và vuông góc với ∆ nên nhận u ( 3;1) làm x = 2 + 3t véc tơ chỉ phương có phương trình tham số là y = 1+ t Như vậy chỉ cần vận dụng trực tiếp những kiến thức đã có, HS đã có thể giải được bài toán.
Đây là sự nhận thức theo sơ đồ “Đồng hóa”. + Điều ứng: Nếu trong quá trình đồng hoá, những tri thức đã có của HS tỏ ra chưa đủ để nhận thức, chưa đủ để giải quyết vấn đề mới, cần phải có sự thay đổi, điều chỉnh, phải tổ chức lại, cấu trúc lại những tri thức đó, có khi phải đưa ra quan niệm mới, cách giải quyết mới… đó là sự điều ứng.2 Khi dạy xong khái niệm phương trình đường tròn tâm I(a;b) bán kính R có phương trình ( x − a ) + ( y − b ) = R 2 , GV đưa bài tập: “Phương trình 2 2 x 2 + y 2 + 2 x + 8 y + 10 = 0 (1) có là phương trình đường tròn không” Mặc dù HS đã biết phương trình đường tròn ( x − a ) + ( y − b ) = R 2 2 2 nhưng HS vẫn chưa đủ kiến thức để giải bài toán trên. HS cần một kiến thức mới là phương trình đường tròn ở dạng khai triển x 2 + y 2 + 2ax + 2by + c = 0 là phương trình đường tròn khi thỏa mãn điều kiện a 2 + b 2 − c > 0. Từ đó ta tìm được (1) là phương trình đường tròn vì có a 2 + b 2 − c = 12 + 4 2 − 10 = 7 > 0 11 - Tuy nhiên, việc quan niệm là quá trình đồng hóa hay điều ứng còn phụ thuộc vào lượng kiến thức của HS.
Thật vậy trong ví dụ 1.2, nếu HS chỉ học xong khái niệm phương trình đường tròn dạng ( x − a ) + ( y − b ) = R 2 thì 2 2 bài tập trên là quá trình điều ứng. Nhưng nếu giáo viên đã dạy song phương trình khai triển của đường tròn x 2 + y 2 + 2ax + 2by + c = 0(a 2 + b 2 − c > 0) thì bài tập trên chỉ là quá trình đồng hóa. Lý thuyết Bruner : “Học thông qua khám phá phát hiện”. Lý thuyết kiến tạo của Bruner (1966) dựa trên giả thiết là cá nhân kiến tạo nghĩa một cách cá nhân thông qua học.
Sau này Ông có thêm yếu tố xã hội vào lý thuyết của mình (Bruner, 1986). Quá trình học cũng chính là quá trình kiến tạo nghĩa. Lý thuyết kiến tạo của Bruner dựa trên hai nguyên lý: - Kiến thức được người học kiến tạo một cách chủ động mà không phải được tiếp nhận một cách bị động từ môi trường. - Học là một quá trình thích nghi dựa trên kinh nghiệm mà người ta có về thế giới và kinh nghiệm này không ngừng được bổ sung và phát triển.
Chính vì vậy, kiến tạo kiến thức là một quá trình năng động mà trong quá trình này người học sử dụng các kiến thức có trước của mình giống như một giàn giáo và trên giàn giáo này các kiến thức mới lấy làm nền tảng và các biểu đạt mới về thế giới sẽ phát triển. Hơn thế nữa, có tính đến các kinh nghiệm mới và tiếp xúc với môi trường, các biểu đạt hay hình ảnh tri nhận này sẽ trở nên phức tạp không ngừng thay đổi. Nói một cách khác, cái mà một cá nhân sẽ học được tùy thuộc vào cái mà mình đã biết, một cá nhân càng biết nhiều thì càng có thể học được nhiều. Bruner đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức dạy học.
Ý tưởng học bằng khám phá, phát hiện là “một cách tiếp cận dạy học mà ở đó người học tác động qua lại với môi trường bằng cách khám phá và sử dụng các vật, tranh luận các câu hỏi và các mâu thuẫn hoặc thực hiện các thử nghiệm”[23]. Bruner cho rằng học bằng cách này có khả năng hiểu và nhớ các khái niệm mà họ khám phá được. 12 Lev Vygotsky cho rằng sự phát triển nhận thức gắn liền trực tiếp vào sự phát triển xã hội. Đối với Vygotsky cái mà đứa trẻ học được và cách tư duy của nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của tri thức đến từ môi trường xung quanh.
Theo ông trẻ em bắt đầu học từ những từ xung quanh chúng, từ những từ ngữ của xã hội xung quanh từ ngữ hàng ngày là nguồn gốc của tất cả những khái niệm, những ý nghĩ, kỹ năng, thái độ của chúng. Quá trình tâm lý của chúng ta được xây dựng cũng giống như một quá trình xã hội có nghĩa là nó được đàotạo và rèn luyện bằng chính văn hóa của chúng ta. Một người lớn nhận thức các sự vật hiện tượng khác một đứa trẻ nhưng sự khác nhau này sẽ giảm dần khi mà đứa trẻ biến đổi tăng dần các nhận thức xã hội thành các nhận thức cá nhân và tâm lý. Vygotsky bảo vệ quan điểm của ông là không thể có phát triển nhận thức mà không có học.
Nói một cách khác người ta chỉ có thể phát triển nhận thức thông qua học. Hơn thế nữa hầu hết các công trình nghiên cứu của ông có liên quan đến vai trò quan trọng của các tương tác xã hội trong phát triển nhận thức. Ông cũng khẳng định rằng các tương tác xã hội đóng vai trò hàng đầu trong việc học và ngôn ngữ là các công cụ lĩnh hội. Để bảo vệ các quan điểm của mình Vygotsky đưa ra khái niệm “vùng phát triển gần” Đây là khái niệm trung tâm của các công trình nghiên cứu của Vygotsky(1985).
Khái niệm này đề cập tới sự khác nhau giữa cái mà đứa trẻ sẽ học nếu học một mình và cái mà đứa trẻ có thể học một cách tiềm năng nếu như đứa trẻ được người khác giúp đỡ. Do đó “vùng phát triển gần” này chính là khoảng cách hay sự khác nhau giữa trình độ phát triển hiện tại được xác định bởi các khả năng của đứa trẻ giải quyết vấn đề một mình và trình độ phát triển tiềm năng được xác định qua việc giải quyết vấn đề của đứa trẻ này, khi mà nó được người lớn giúp đỡ hay hợp tác với các bạn nhỏ có trình độ cao hơn. Trong lý thuyết được phát triển chủ yếu bởi Vygotsky “vùng phát triển gần” trước hết là cái mà người học chỉ có thể thực hiện được với sự giúp đỡ của một người có năng lực hơn. Học được coi như là kết quả của các hoạt động nhận thức xã hội gắn liền với các trao đổi sư phạm giữa người dạy với 13 người học và giữa người học với người học.
Khái niệm kiến tạo tri thức là sự tiếp tục tự kiến tạo xã hội các kiến thức bởi những người học. Quan điểm về phương pháp dạy học kiến tạo Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo” có nghĩa là xây dựng nên một cái gì đó. Động từ kiến tạo chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng, hiện tượng, quan hệ nhằm mục đích hiểu chúng và sử dụng chúng như những công cụ kí hiệu để xây dựng nên các đối tượng, các hiện tượng, các quan hệ mới hơn. Theo Mebrien và Brandt (1997) thì “dạy học kiến tạo” là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận từ người khác.
Còn theo Brooks (1993) thì: “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng HS cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái mà họ đã có trước đó. HS thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng…”[17].