đặt vấn đề một cách tương đối hoàn chỉnh về lý luận là 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong tác phẩm Nghệ thuật thơ ca, phát triển lý luận văn học “mô phỏng” cuộc sống, Aristote nêu ba phương thức “mô phỏng”: “hoặc kể về một sự kiện, coi nhƣ một cái gì tách biệt với mình, hoặc là ngƣời mô phỏng nhân danh mình mà kể, hoặc là giới thiệu tất cả các nhân vật nhƣ những ngƣời đang hành động và hoạt động” [1, tr. Vào TK XIX, nhà lý luận văn học Nga là Bêlinxki cũng chia tác phẩm văn học thành ba loại: tự sự, trữ tình, kịch. Ông cho rằng, chia thơ ca (văn học) làm ba loại: tự sự, trữ tình, kịch là xuất phát từ ý nghĩa của việc nhận thức chân lý, cũng tức là trên tinh thần nhận thức - xuất phát từ mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với đối tượng - khách thể nhận thức.
Thơ trữ tình biểu hiện phương diện chủ quan của một con người, đem con người bên trong phơi bày ra trước mắt chúng ta, do đó toàn bộ là cảm xúc, tình cảm, âm nhạc. Thơ tự sự là miêu tả khách quan một sự kiện đã hoàn thành, là nhà nghệ sĩ đã chọn cho chúng ta một điểm thích hợp nhất để bày tỏ tất cả mọi phương diện, làm thành một bức tranh cho chúng ta xem. Thơ kịch là sự điều hòa hai phương diện trên, chủ quan, trữ tình và khách quan, tự sự. Trình bày ra trước mắt chúng ta, không phải là sự kiện đã hoàn thành, mà là đang thực hiện; không phải nhà thơ đang thông báo sự việc cho ta, mà là từng nhân vật xuất hiện nói với chúng ta.
Từ truyền thống trên, trong lý luận văn học phương Tây thịnh hành cách chia văn học làm ba loại. Theo truyền thống đó, loại tự sự bao gồm các thể loại sử thi (anh hùng ca), thơ tự sự (truyện thơ), tiểu thuyết…; loại trữ tình bao gồm các thể loại như thơ trữ tình, văn xuôi trữ tình; loại kịch bao gồm bi kịch, hài kịch, chính kịch… Dựa theo tiêu chí loại hình nội dung thể loại, nhà nghiên cứu Nga G. Pospelov lại chia ra các loại thần thoại, sử thi, thế sự và đời tư. Dựa theo tiêu chí miêu tả cuộc sống đã hoàn thành và chưa hoàn thành, nhà nghiên cứu M.
Bakhtin đưa ra các thể loại văn học sử thi và các thể loại tiểu thuyết. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Trung Quốc và Việt Nam từ xưa, do quan niệm văn sử bất phân, người ta chia văn học ra làm hai loại chính theo hình thức ngôn từ là thơ và văn. Các tuyển tập văn học lớn trong lịch sử văn học cũng chia ra như thế, ví dụ như Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển do Bùi Huy Bích (1744- 1818) soạn. Cho đến những năm 60 thế kỉ XX xuất hiện bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do nhiều học giả chủ trì, sau đó xuất hiện bộ Thơ văn Lí Trần do Viện Văn học chủ trì.
Các tên sách đều cho thấy quan niệm chia hai mảng văn thơ rất thịnh hành. Ở Trung Quốc hiện đại thịnh hành lối chia bốn. Theo đó loại thơ gồm thơ trữ tình, thơ tự sự, sử thi (anh hùng ca). Các tác phẩm tự sự, văn xuôi đều được gọi bằng một cái tên chung là tiểu thuyết, như tiểu thuyết truyền kì, tiểu thuyết chương hồi v.
hai loại còn lại là kịch và tản văn. Khái niệm tản văn của Trung Quốc bao gồm các tác phẩm văn xuôi cổ như tản văn lịch sử, tản văn nghệ thuật, các bài du kí, bút kí, tùy bút, kí sự, tạp văn… Ở Việt Nam sử dụng cả cách chia ba và cách chia bốn. Cách chia bốn gồm thơ ca (chỉ chủ yếu là thơ trữ tình), truyện (gồm cả tiểu thuyết và truyện thơ), kịch và kí. Khái niệm kí nghiêng về các tác phẩm viết về người thật, việc thật, cốt truyện không được quan tâm như truyện.
Loại này cũng bao hàm các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật như tản văn, tùy bút… Việc phân chia các tác phẩm văn học ra làm ba loại hình cơ bản, như trên đã nói, là căn cứ vào thiên hướng chủ đạo của phương thức phản ánh và biểu hiện của tác phẩm. Do đó sự phân chia này chỉ là trên lý luận và có tính chất tương đối. Trên thực tế cụ thể, sinh động của tác phẩm, các loại tự sự, trữ tình và kịch thường thâm nhập vào nhau, kết hợp với nhau, đảm bảo những khả năng vô tận trong việc miêu tả hiện thực cuộc sống, bộc lộ nội tâm con người, làm cơ sở để nảy sinh nhiều thể tài văn học khác nhau. Cho nên trong thực tiễn, không nên xác định và khẳng định một cách tuyệt đối một tác phẩm nào đó chỉ là tự sự, chỉ là trữ tình hoặc chỉ là kịch.
Thường thường trong tác 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm tự sự có bao hàm những yếu tố trữ tình và ngược lại, trong tác phẩm trữ tình vẫn có yếu tố tự sự, còn trong kịch thì thường kết hợp cả hai. Sự kết hợp đó là yêu cầu có tính quy luật của sự sáng tác văn học và nhiều khi đó là dấu hiệu về phẩm chất nghệ thuật của một tác phẩm. Và ranh giới giữa ba loại không phải tuyệt đối rạch ròi, dứt khoát. Khi xác định một tác phẩm thuộc loại này hay loại kia là chúng ta căn cứ vào đặc trưng loại thể chủ đạo của nó mà thôi đồng thời phải thừa nhận khả năng các yếu tố thuộc loại thể khác vẫn song song tồn tại trong tác phẩm.
Kịch và kịch bản văn học 1. Khái niệm Trong Từ điển thuật ngữ văn học - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, thuật ngữ kịch được dùng theo hai cấp độ: Ở cấp độ loại hình: “ Kịch là một trong ba phƣơng thức cơ bản của văn học (Kịch, tự sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu lại vừa thuộc văn học. Kịch bản vừa dùng để diễn tả là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phƣơng diện văn học của kịch.
Theo đó tiếp nhận kịch bản chính là phƣơng diện của văn học kịch” [11, tr. Ở cấp độ loại thể: “Thuật ngữ kịch đƣợc dùng để chỉ một thể loại văn học - sân khấu có vị trí tƣơng đƣơng với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này kịch còn đƣợc gọi là chính kịch” [11, tr. Kịch thực ra không phải là một thể loại văn học đơn thuần.
Một tác phẩm kịch có thể đọc nhưng chủ yếu là để diễn trên sân khấu. Có thể nói một vở kịch có hai cuộc đời: cuộc đời của nghệ thuật ngôn ngữ (kịch bản) và cuộc đời của nghệ thuật sân khấu (diễn xuất). Chỉ khi được diễn trên sân khấu, vở kịch mới được sống cuộc đời trọn vẹn của nó. Không đưa lên sân khấu, kịch chỉ là “một linh hồn không thể xác” (Gôgôl).
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kịch là phương thức đặc biệt để tái hiện hiện thực cuộc sống và biểu hiện tư tưởng nhà văn, tức là phản ánh và biểu hiện bằng ngôn ngữ và hành động trực tiếp của các nhân vật trong các tình huống của cuộc sống “tự bản thân nó, không cần sự dẫn dắt của tác giả” [22, tr. Khác với tác phẩm loại tự sự, trong tác phẩm kịch tác giả không thể luôn luôn có mặt cùng với nhân vật (hoặc ẩn hoặc hiện) để khi cần thì giới thiệu, thuyết minh, giải thích mọi hành động, cử chỉ, tâm trạng, ý nghĩ của nhân vật trong kịch, mọi việc phải tự nó bộc lộ ra. Tính chất khách quan của sự phản ánh và biểu hiện ở tác phẩm kịch chặt chẽ, nghiêm khắc hơn ở tác phẩm tự sự. Khi đưa kịch lên sân khấu, để giúp cho sự biểu diễn được tốt, người ta phải huy động sự giúp sức của nhiều bộ môn nghệ thuật: âm nhạc, trang trí, ánh sáng.
Bên cạnh nhà văn - người sáng tác, kịch bản, các đạo diễn, diễn viên cũng góp phần quan trọng vào sự thành công của một vở kịch. Nên có thể khẳng định kịch là một loại hình nghệ thuật có tính chất tổng hợp. Tuy nhiên, là một trong những thể loại chính của văn học với đầy đủ các đặc trưng riêng trong cấu trúc hình tượng, trong phương thức biểu hiện, trong ngôn ngữ nghệ thuật, người ta vẫn có thể thưởng thức tác phẩm kịch bằng cách đọc kịch bản văn học. Không có kịch bản thì không có kịch.
Kịch bản là linh hồn của một vở kịch. Có thể xem “kịch”, “kịch bản văn học” hay “văn học kịch” như những khái niệm đồng nghĩa. Bởi kịch bản văn học vừa thuộc nghệ thuật sân khấu, vừa thuộc nghệ thuật ngôn từ. Là vở diễn sân khấu, nó sống với công chúng khán giả.
Là tác phẩm văn học, nó sống với công chúng độc giả. Cho nên, có thể bàn về đặc trưng của kịch bản như là một thể loại văn học. Nhưng muốn xác định được đặc trưng thể loại của kịch bản văn học thì phải tính đến sự chi phối của nghệ thuật sân khấu. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Những đặc trưng thể loại của kịch 1. Xung đột kịch Phađêép từng khẳng định “xung đột là cơ sở của kịch”, nói đến kịch là nói đến xung đột. Lấy xung đột trong đời sống làm cơ sở cho sự sáng tạo nghệ thuật, nhà viết kịch đã đến với hiện thực bằng con đường ngắn nhất. Cơ sở của kịch là những mâu thuẫn xã hội, lịch sử hoặc những xung đột muôn thuở của cuộc sống con người.
Vì mâu thuẫn xung đột làm nên nội dung chủ yếu của kịch, cho nên kịch thường ra đời và phát triển ở những thời kỳ có mâu thuẫn đấu tranh gay gắt. Một vở kịch có thể có một hoặc nhiều mâu thuẫn xung đột. Đó có thể là xung đột giữa tính cách với hoàn cảnh, giữa các tính cách với nhau, giữa những mặt khác nhau của cùng một tính cách hoặc là sự đối lập về quan niệm của bản thân các hình tượng. Muốn khám phá được những vấn đề thuộc về bản chất của đời sống xã hội, người viết kịch phải tạo được những xung đột mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.
Trong sự vận động đa chiều của các cặp phạm trù thẩm mĩ: cái đẹp - cái xấu, cái cao cả - cái thấp hèn, cái thiện - cái ác, cái mới (tiến bộ) - cái cũ (lạc hậu), xung đột kịch thường nằm ở thời điểm cao trào của sự vận động ấy. Xung đột trong tác phẩm kịch phải được tổ chức trên cơ sở của phương thức điển hình hoá. Tức là tất cả phải đạt đến tính chân thực và điển hình.