Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2. Dạy học khám phá hệ phương trình, phương trình lớp 9 Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 3 z CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu A. Rubinstien là người nghiên cứu lý thuyết hoạt động tạo nền tảng cho phương pháp dạy học khám phá ra đời. Sau đó Jerome Bruner nghiên cứu kĩ hơn và đưa vào thực tiễn để áp dụng.
Từ đó, các nhà nghiên cứu trên thế giới như Jacke Richards, Heidi Platt…phát triển thêm. Từ năm 2000, các tác giả của Việt Nam như Trần Bá Hoành, Bùi Văn Nghị… mới công bố nhiều công trình quan trọng về phương pháp này. Công trình nghiên cứu của Jerome Bruner Jerome Bruner là một giáo sư tài giỏi của trường Đại học Harvard, tác giả của các tác phẩm “Quá trình Giáo dục” (The Process of Education) và “Tiến tới một học thuyết về giảng dạy” (Towards a Theory of Instruction) đã góp phần quan trọng trong “cuộc cách mạng về nhận thức” của ngành Giáo dục. “Quá trình giáo dục” là tác phẩm kinh điển được rất nhiều người đọc vì ông đã nhận định đúng về quá trình học mang tính chủ quan.
Thông qua đó, người học sử dụng kiến thức có sẵn để hình thành ý niệm mới. Do đó, người học phải sử dụng quá trình tư duy để phát hiện ý nghĩa của vấn đề đang đề cập. Jerome Bruner chỉ ra ba yếu tố cơ bản của phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn nói gọn: dạy học khám phá. Thứ nhất, người dạy (giáo viên) nghiên cứu nội dung kiến thức cần truyền đạt có chất và lượng cần thiết để phù hợp với đối tượng học, tạo được tình huống có vấn đề học sinh hoạt động tìm tòi, khám phá tri thức.
Thứ hai, giáo viên thiết kế các hoạt động của học sinh tương ứng với hoạt động định hướng, tổ chức của giáo viên. Thứ ba, giáo viên khéo léo chỉ đạo quá trình dạy học mà người học khám phá bài học với sự hướng dẫn của giáo viên. Các công trình của Goeffrey Pretty Theo ông có hai cách tiếp cận trong dạy học là dạy bằng giải thích và đặt câu hỏi. Trong đó, dạy học bằng cách diễn giải kiến thức mới khiến học sinh thụ động tiếp nhận.
Còn cách dạy vấn đáp , giáo viên đặt câu hỏi hoặc bài tập yêu cầu học sinh tìm ra kiến thức và có sự hướng dẫn của giáo viên. Khi này, kiến thức mà Học sinh khám phá kiến thức được giáo viên chỉnh sửa và khẳng định lại. Do vậy, dạy 4 z học khám phá có hướng dẫn chỉ được giáo viên sử dụng nếu người học có khả năng rút ra bài học mới từ kiến thức sẵn có. Dạy học khám phá được nghiên cứu ở Việt Nam Từ cuối những năm 1960, khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” đã được các trường sư phạm áp dụng để định hướng cho học sinh tự khám phá tri thức mới một cách chủ động và tích cực.
Từ năm 1980, cải cách giáo dục ở nước ta theo hướng tiếp cận mới này được triển khai nhưng chuyển biến chậm. Phương pháp dạy học truyền thống – giáo viên là trung tâm, học sinh thụ động tiếp nhận kiến thức còn phổ biến. Các tiết học theo phương pháp dạy học khám phá để phát huy tính tích cực học tập của học sinh thường dừng lại ở các hoạt động mang tính minh họa, biểu diễn. Để việc ứng dụng phương pháp dạy học khám phá được thuận lợi và phát triển thì một số nhà nghiên cứu đã công bố đề tài về nội dung cụ thể của Giáo dục nói chung và môn Toán nói riêng.
Các tác giả có nghiên cứu tiêu biểu như: Trần Bá Hoành “Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực”, Bùi Văn Nghị với cuốn sách “Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông”. Trong nghiên cứu của Trần Bá Hoành, tác giả chỉ ra việc xây dựng bài toán gồm các câu hỏi dẫn dắt học sinh tìm ra cách giải là quy tắc, khái niệm của bài học là bước thứ nhất để giáo viên dạy học sinh khám phá kiến thức. Thiết kế bài toán thành các bài thành phần mà học sinh sử dụng kiến thức đã tích lũy để các em có thể làm được. Tóm lại, phương pháp dạy học khám phá đã được rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, đồng thời được nhiều thầy cô áp dụng vào thực tiễn giảng dạy.
Tuy nhiên, việc áp dụng này vẫn còn có những thiếu xót và chưa được phổ biến và cần được cải thiện bằng nhiều cách thức. Phƣơng pháp dạy học khám phá 1. Khái niệm Khám phá được hiểu theo nghĩa thông thường là hành động tìm ra sự vật hiện tượng bị che giấu, tìm thấy cái mong muốn.Trong dạy học, khám phá là quá trình hoạt động tư duy tích cực của chủ thể nhằm nhận thức bản chất vấn đề. 5 z Ở bậc giáo dục trung học cơ sở, phương pháp dạy học khám phá được sử dụng chủ yếu là hoạt động khám phá của học sinh có hướng dẫn của giáo viên để các em tìm ra tri thức của môn học.
Để tiến trình dạy học khám phá đạt hiệu quả, giáo viên phải dành nhiều tâm sức tổ chức các hoạt động có định hướng phát triển tư duy cho học sinh một cách phù hợp cả về nội dung bài học và năng lực của học sinh. Người thầy cần phát huy được tính tích cực của hoạt động nhóm bằng cách: dẫn dắt học sinh hợp tác trao đổi nhóm với nhau cùng với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học hiện đại để các em tự kiểm tra và điểu chỉnh tri thức bản thân tiếp cận tri thức khoa học nhân loại. Các hình thức Trong học tập, tùy thuộc vào trình độ nhận thức, năng lực tư duy của người thầy và học trò; cách thức tổ chức hoạt động dạy học khám phá: theo cá nhân hay nhóm; đồng thời còn tùy theo mức độ phức tạp của vấn đề khám phá, để phân dạng hoạt động khám phá từ thấp lên cao. Quá trình học tập gồm các hoạt động khám phá sau: - Vấn đáp, hoàn thành chỗ còn thiếu; - Đưa ra định hướng giải quyết vấn đề, báo cáo kết quả; - Thảo luận nhóm, giải toán; - Thực hiện đề tài nghiên cứu.
Như vậy, học sinh đạt hiệu quả học tập tốt khi giáo viên thiết kế bài soạn dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa phương pháp dạy học khám phá và truyền thống, tổ chức hoạt động của học sinh đảm bảo đủ thời lượng tiết học. Các giai đoạn Quá trình dạy – học, dẫn dắt – khám phá của thầy và trò được chia thành bốn giai đoạn sau: Giai đoạn 1 – Giáo viên giao nhiệm vụ của tình huống khám phá cho học sinh tiếp nhận. Các em cần hiểu rõ yêu cầu phải giải quyết, điều cần phát hiện ra là gì; cần đến những phương tiện, đồ dùng, dụng cụ gì; cách thức xử lí ra sao; tiến hành theo cá nhân hay theo nhóm. 6 z Giai đoạn 2 – Tình huống có vấn đề được học sinh giải quyết: Học sinh gợi nhớ kiến thức được trang bị, kinh nghiệm giải toán đã có để tự giải quyết vấn đề, khám phá những tri thức mới.
Khi này, các em có thể thực hiện theo cá nhân hoặc nhóm với sự theo dõi và định hướng của giáo viên. Giai đoạn 3 – HS trình bày kết quả của nhiệm vụ đã thực hiện, phương án giải quyết rồi kết luận khoa học. Học sinh khác chú ý theo dõi bài báo cáo của bạn để tự nhận xét cách làm của bản thân và tham gia đóng góp ý kiến. Giai đoạn 4 – Tổng kết và rút ra kết luận: Giáo viên giúp học sinh kết luận về tri thức đạt được.
Điều kiện để vận dụng - Giáo viên và học sinh có trình độ nhất định để thực hiện hoạt động khám phá và chủ động hơn so với dạy học truyền thống. - Giáo viên hiểu năng lực tiếp thu của học sinh để hướng dẫn khám phá ở mức hợp lý trong mỗi hoạt động nhóm của trò, quan sát và có câu hỏi gợi mở để các em tự lực tìm ra tri thức. Ví dụ Trong tiết học ôn tập chương III - Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, Đại số 9, giáo viên đưa ra bài tập sau: x 2my 2m 3 (1) Cho hệ phương trình (I) 2mx y 1 m (2) a) Tìm điều kiện của m để HPT trên chỉ có một nghiệm? b) Giải HPT trên. Giáo viên giao nhiệm vụ giải bài toán trên cho học sinh tiếp nhận.
HS khám phá cách giải bài toán - Các nhóm học sinh gợi nhớ kiến thức được trang bị, kinh nghiệm giải toán đã có để tự giải quyết vấn đề, khám phá những tri thức mới. - Tại thời điểm đó, giáo viên theo dõi, nếu thấy người học gặp trở ngại khi tìm kiếm và thực hiện phương án giải toán thì giáo viên đưa ra định hướng. [?] Để hệ phương trình có nghiệm duy nhất thì em phải xét biểu thức nào giữa các hệ số của ẩn x, y trong hai phương trình của hệ trên? 7 z [!] Xét ab' a' b 0 để tìm điều kiện xác định của m? [?] Chúng ta có biện luận hệ theo tham số m luôn không? Hay nên giải hệ theo phương pháp nào rồi mới biện luận nghiệm? Vì sao? [!] Trong PT (1) có x không chứa tham số nên dễ dàng đặt x theo ẩn y rồi thế vào phương trình còn lại để tính y theo m. Giải hệ bằng phương pháp thế để làm đơn giản hệ rồi biện luận hệ.
Còn nếu biểu diễn y theo x thì phải xuất phát từ phương trình (2) vì hệ số của y là hằng số. Học sinh báo cáo kết quả trước lớp a) Hệ PT (I) có một và chỉ 1 nghiệm 1 1. 1 TH 1 : 1 – 4m2 ≠ 0 m 2 ( 1 2 m)2 2m 1 y ( 1 2m )( 1 2m ) 2m 1 Khi đó x 2m 3 2m( 2m 1 ) 10m 3 2m 1 2m 1 1 TH 2 : m 2 x y 4 1 Với m thì (I) 1 , hệ vô nghiệm. 2 x y 2 x y 2 1 Với m thì (I) 3 , hệ vô nghiệm.