Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Quảng Nam-Đà Nẵng giai đoạn 1969-1975" do tác giả Lê Thị Ngọc Dung thực hiện tại Khoa Sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, tập trung nghiên cứu vai trò lịch sử và các hoạt động đấu tranh chính trị, xã hội của lực lượng học sinh, sinh viên (HSSV) tại địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng trong giai đoạn thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí xung kích của lực lượng HSSV – bộ phận thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản đô thị – trong phong trào giải phóng dân tộc. Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, phong trào HSSV từng tạo nên những dấu mốc quan trọng như phong trào làm chủ thành phố Đà Nẵng 76 ngày đêm năm 1966. Bước sang giai đoạn 1969–1975, phong trào có sự chuyển biến về chất và phát huy tối đa các hình thức đấu tranh. Tuy nhiên, giới sử học trong nước và địa phương trước đó chưa có nhiều công trình chuyên khảo đi sâu vào giai đoạn này; nguồn tư liệu chủ yếu nằm rải rác trong các tập hồi ký của những nhân chứng trực tiếp như Lê Công Cơ, Hồ Duy Lệ, Hoàng Phủ Ngọc Phan, gây khó khăn cho việc đánh giá toàn diện diện mạo và đóng góp của phong trào học đường đô thị.

Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Làm rõ nguyên nhân, bối cảnh lịch sử và diễn biến phong trào đấu tranh của HSSV Quảng Nam - Đà Nẵng giai đoạn 1969–1975.
  2. Phân tích các mục tiêu và hình thức đấu tranh cụ thể của lực lượng HSSV qua từng thời điểm.
  3. Đánh giá tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại địa phương.

Đối tượng nghiên cứu là phong trào đấu tranh của HSSV Quảng Nam - Đà Nẵng trong giai đoạn 1969–1975. Phạm vi không gian tập trung chủ yếu vào ba trung tâm đô thị lớn: thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội An và thị xã Tam Kỳ (thuộc tỉnh Quảng Nam). Phạm vi thời gian trọng tâm từ năm 1969 đến năm 1975, có liên hệ khái quát các giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1968 nhằm xác lập tính liên tục lịch sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận sử học Mác-xít kết hợp nguyên tắc lịch sử và logic. Cơ sở lý luận và đường lối nghiên cứu dựa trên các nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Khu ủy V, tiêu biểu như Nghị quyết số 188-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 10-5-1969), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (ngày 21-7-1970), cùng các chỉ đạo của Thường vụ Khu ủy V về nhiệm vụ công tác đô thị và xây dựng lực lượng chính trị quần chúng.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp sưu tầm, khảo sát, biên tập và phân loại tài liệu lịch sử.
  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và đối chiếu các nguồn tư liệu thành văn.
  • Phương pháp khảo sát điền dã thực tế tại một số trường học và địa điểm diễn ra phong trào ở thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.
  • Phương pháp lịch sử truyền khẩu: Phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng lịch sử từng trực tiếp chỉ đạo hoặc tham gia phong trào HSSV thời kỳ này, như ông Phan Duy Nhân và nhà báo Lê Đức Hùng.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm:

  • Các văn kiện lịch sử của Đảng bộ địa phương, hệ thống báo cáo và tư liệu lưu trữ của Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng về phong trào đấu tranh đô thị thời kỳ "Việt Nam hóa chiến tranh".
  • Các công trình lịch sử Đảng bộ địa phương: Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng (1954-1975) (1996), Lịch sử Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng, tập II (1954-1975) (1997), Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh thiếu niên tỉnh Quảng Nam (1927-2011) (2011).
  • Các tập hồi ký và kỷ yếu: Năm tháng dâng người (Lê Công Cơ, 2006), Chúng tôi có một thời như thế (Ban Liên lạc Tổng đoàn học sinh Đà Nẵng, 2011), Từ xếp bút nghiên lên đàng đến xuống đường dậy mà đi (2010).
  • Tư liệu báo chí đương thời tại các đô thị miền Nam như Nhật báo Tia Sáng, Nhật báo Trắng Đen, cùng ấn phẩm nội bộ của phong trào như tờ báo Tiếng gọi Học sinh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát phong trào học sinh, sinh viên Quảng Nam – Đà Nẵng trước năm 1969

Chương 1 hệ thống hóa các yếu tố địa lý, văn hóa, xã hội và truyền thống đấu tranh yêu nước của vùng đất xứ Quảng, làm rõ tiền đề hình thành nên phong trào HSSV trước năm 1969:

  1. Vị trí địa chính trị và con người Quảng Nam - Đà Nẵng: Tác giả phân tích vị trí trung độ chiến lược, nơi có cảng biển Đà Nẵng, Chu Lai và hệ thống giao thông thủy - bộ thuận lợi, trở thành mục tiêu quân sự hàng đầu của các lực lượng ngoại xâm. Tính cách cương trực, quyết đoán, sự gắn kết cộng đồng và tinh thần hiếu học của cư dân xứ Quảng đã tạo cơ sở xã hội vững chắc cho các phong trào đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ, từ phong trào Cần Vương (Nghĩa hội Quảng Nam), Duy Tân hội, phong trào Đông Du cho đến cao trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản từ năm 1930.
  2. Phong trào HSSV giai đoạn 1954–1960: Sau Hiệp định Genève 1954, phong trào bắt đầu bằng các hoạt động đấu tranh chính trị đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống chính sách "tố Cộng, diệt Cộng" của chính quyền Ngô Đình Diệm. Tiêu biểu là các cuộc mít tinh ngày 1-5-1955, phong trào chống "trưng cầu dân ý" (25-10-1955), tấm gương bất khuất của nữ đoàn viên Trần Thị Lý. Giai đoạn này lực lượng HSSV tham gia phong trào chung của đô thị nhưng chưa có tổ chức tập hợp quy mô riêng biệt.
  3. Phong trào HSSV giai đoạn 1961–1965: Tháng 12-1961, Hội liên hiệp Sinh viên - Học sinh giải phóng Đà Nẵng được thành lập (gồm các nhân sự ban đầu như Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Ngọc Trình, Phạm Thị Cẩm Nhung, Hoàng Lâm), cho ra đời tổ báo "Đoàn kết" (sau đổi tên thành "Hướng sống"). Phong trào chuyển biến mạnh mẽ với việc thành lập Chi đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng trường Phan Châu Trinh (1963–1964), các cuộc biểu tình chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm (1-8-1963), và đỉnh cao là cuộc xuống đường của hàng vạn người phản đối "Hiến chương Vũng Tàu" của Nguyễn Khánh (tháng 8-1964) dẫn đến 9 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng. Sự kiện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi hy sinh (15-10-1964) và vụ máy bay Mỹ ném bom trường tiểu học Mân Quang làm 45 học sinh thiệt mạng (16-7-1965) đã thổi bùng phong trào "Xếp bút nghiên" lên chiến khu gia nhập tiểu đoàn Nguyễn Văn Trỗi.
  4. Phong trào HSSV giai đoạn 1966–1968: Giai đoạn này chứng kiến sự kiện 76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng (từ 10-3 đến 24-5-1966). Lực lượng HSSV phối hợp cùng các tầng lớp nhân dân, phật tử, lực lượng biến động miền Trung tổ chức các đại đội "bài trừ gian thương", đội tự vệ trang bị vũ khí, bãi khóa toàn diện, biểu tình quy mô lớn (cuộc xuống đường ngày 30-3-1966 với hơn 10.000 người và 1.457 xe tải). Sau sự kiện năm 1966, phong trào tiếp tục duy trì đấu tranh chống cuộc bầu cử gian lận của liên danh Thiệu - Kỳ vào tháng 9-1967.

Chương 2: Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên giai đoạn 1969-1975 ở Quảng Nam - Đà Nẵng

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, tái hiện chi tiết các mặt đấu tranh của HSSV dưới tác động của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh":

  1. Chính sách thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn:
    • Về quân sự và an ninh: Đà Nẵng được củng cố thành căn cứ liên hợp quân sự lớn thứ hai ở miền Nam với 4 sân bay, 8 cầu cảng quân sự, 4 tổng kho, 23 cụm cứ điểm và 98 kho hậu cần. Năm 1969, địch tập trung tại đây 28 tiểu đoàn bộ binh, thủy quân lục chiến và thiết giáp. Hệ thống phòng thủ nhiều tầng được thiết lập; bên trong đô thị, địch áp dụng mạng lưới kiểm soát "ngũ gia liên bảo", mở các chiến dịch cảnh sát "vì dân, thân dân" để thanh lọc cơ sở cách mạng.
    • Về kinh tế - xã hội và giáo dục: Tình trạng "đô thị hóa cưỡng bức" do chiến sự vùng nông thôn khiến số dân tị nạn tăng nhanh, thất nghiệp tràn lan (đến tháng 7-1974 có 70% công nhân Đà Nẵng không có việc làm). Chính sách giáo dục tăng học phí, thực hiện "chủ trương cá mập, lớp học cá mòi", đề ra chương trình học mang tính nhồi sọ. Chế độ thi cử gắt gao nhằm đánh rớt học sinh (kỳ thi tháng 6-1969 có tới 91,9% thí sinh bị đánh trượt) để đôn quân vào lính qua chương trình "Quân sự hóa học đường" và tổ chức "Tổ quốc học đường".
  2. Chủ trương lãnh đạo của Đảng và Khu ủy V: Bộ Chính trị và Thường vụ Khu ủy V ban hành nhiều nghị quyết yêu cầu giữ vững thế tiến công ở đô thị, phát triển lực lượng HSSV thành đội quân xung kích trong đấu tranh chính trị, kết hợp đấu tranh công khai, hợp pháp với công tác binh vận và vũ trang tự vệ.
  3. Các phong trào đấu tranh tiêu biểu của HSSV:
    • Đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ và bảo vệ văn hóa dân tộc: Ngày 17-7-1971, tại Tịnh xá Ngọc Cơ (đường Hoàng Diệu, Đà Nẵng), 37 đại biểu đại diện cho 3 vạn học sinh đã họp thành lập Ban Chấp hành lâm thời Tổng Đoàn Học sinh Đà Nẵng (Đặng Thanh Tịnh làm Chủ tịch, Lương Thanh Liêm làm Tổng Thư ký). Tổ chức đã ra Tuyên cáo bảo vệ quyền lợi học đường, phát hành tờ báo Tiếng gọi Học sinh, tổ chức các phong trào văn nghệ cách mạng ("Hát cho đồng bào tôi nghe", "Tiếng hát những đêm không ngủ", kịch thơ Tiếng gọi Lam Sơn của Trần Quang Long, hoạt cảnh Việt Nam hóa chiến tranh thay màu da trên xác chết). Sự kiện học sinh Phan Ngọc tự thiêu phản đối đàn áp học đường tại trường Trung học Bồ Đề và vở kịch Dưới chân tượng thần no ấm của Lê Hoàng Thao (trình diễn tại trường Phan Châu Trinh) đã tạo tiếng vang sâu rộng.
    • Phong trào chống chính sách quân sự hóa học đường và chống bắt lính: HSSV phối hợp cùng giáo chức đấu tranh đòi bãi bỏ quân sự học đường, tổ chức đốt phá phòng Huấn luyện quân sự học đường, thiêu hủy hồ sơ quân sự, dùng bom xăng tự chế tấn công xe quân sự Mỹ trên các trục đường giao thông (tiêu biểu là học sinh các trường Bồ Đề, Phan Châu Trinh, Quảng Đức, Hồng Đức sau vụ xe Mỹ cán chết học sinh Phạm Văn Cường ngày 9-6-1971).
    • Phong trào chống trò hề bầu cử Tổng thống độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu (tháng 10-1971): Đỉnh cao bùng nổ từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10-1971. Ngày 3-10-1971, HSSV phối hợp cùng các tầng lớp nhân dân đồng loạt tấn công, đập phá thùng phiếu tại toàn bộ 54 điểm bỏ phiếu trên toàn thành phố Đà Nẵng, đốt phá Nhà Thông Tin tại ngã tư Hùng Vương - Yên Bái. Cuộc đàn áp của cảnh sát dã chiến làm hai học sinh trường Bồ Đề hy sinh: Nguyễn Bá Tần (18 tuổi) và Nguyễn Tam Vàng (15 tuổi). Sáng 6-10-1971, lễ tang hai học sinh tại chùa Tỉnh hội đã biến thành cuộc biểu tình, tuần hành khổng lồ của hàng vạn người qua các trục đường chính, làm tê liệt bộ máy cai trị đô thị.
    • Đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris (1973) và chuẩn bị giải phóng: Sau đợt tổng khủng bố của địch qua "Chiến dịch Phượng hoàng" và các chiến dịch "Sao chổi 1", "Sao chổi 2" (tháng 5-1972) bắt giữ gần 100 cán bộ cốt cán của Tổng Đoàn Học sinh, phong trào đã nhanh chóng khôi phục cơ sở, tẩy chay tổ chức "Tổ quốc học đường", phản đối "Tuần kỷ luật học đường", tích cực phối hợp cùng các lực lượng vũ trang chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu và dữ liệu lịch sử ghi nhận

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu, sự kiện và tư liệu lịch sử phản ánh quy mô và mức độ quyết liệt của phong trào HSSV Quảng Nam - Đà Nẵng:

Tiêu chí / Sự kiện Dữ liệu lịch sử ghi nhận trong công trình
Cơ sở hạ tầng quân sự đối phương tại Đà Nẵng 4 sân bay, 8 cầu cảng quân sự, 4 tổng kho, 23 cụm cứ điểm, 98 kho hậu cần; 28 tiểu đoàn chiếm đóng (năm 1969).
Tỷ lệ trượt thi tú tài bị tố cáo (tháng 6-1969) 91,9% thí sinh bị đánh trượt nhằm mục đích cưỡng bức nhập ngũ.
Thành lập Tổng Đoàn Học sinh Đà Nẵng (17-7-1971) 37 đại biểu đại diện cho 30.000 (3 vạn) học sinh; trụ sở thành lập tại Tịnh xá Ngọc Cơ; Đặng Thanh Tịnh làm Chủ tịch.
Phong trào chống bầu cử độc diễn (3-10-1971) Tấn công, phá hủy toàn bộ 54/54 điểm bỏ phiếu trên địa bàn Đà Nẵng; 2 học sinh hy sinh (Nguyễn Bá Tần, Nguyễn Tam Vàng); ít nhất 57 người bị thương.
Tổn thất trong đợt đàn áp tháng 5-1972 Chiến dịch Phượng hoàng, Sao chổi 1, Sao chổi 2 bắt giữ gần 100 cán bộ và thành viên cốt cán của Tổng Đoàn Học sinh Đà Nẵng.
Khen thưởng và danh hiệu lịch sử Tuổi trẻ Đà Nẵng được thưởng Huân chương Giải phóng hạng Ba; Trường Trung học Phan Châu Trinh nhận danh hiệu "Trường trung học anh dũng"; Trường Trung học Bồ Đề nhận danh hiệu "Trường trung học quyết thắng".

Đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa một cách toàn diện và có hệ thống quá trình phát triển của phong trào HSSV Quảng Nam - Đà Nẵng giai đoạn 1969–1975, lấp khoảng trống tư liệu chuyên khảo về giai đoạn này ở địa phương.
  • Làm rõ tính chất chuyển biến từ đấu tranh dân sinh, dân chủ học đường sang đấu tranh chính trị trực diện, phối hợp chặt chẽ với phong trào công nhân, phật tử và các tầng lớp đô thị khác.
  • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử có giá trị khoa học cho công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử địa phương và phục vụ giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào không gian đô thị (Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ), nguồn tư liệu thành văn giai đoạn 1973–1975 sau các chiến dịch bắt bớ của đối phương còn phân tán, chủ yếu dựa trên các văn kiện Đảng bộ và hồi ký nhân chứng sẵn có.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối chiếu phong trào HSSV Quảng Nam - Đà Nẵng với phong trào HSSV tại các trung tâm đô thị lớn khác ở miền Nam như Huế, Sài Gòn, Cần Thơ; đào sâu thêm các hình thức hoạt động nội thành bí mật và vai trò của các tổ chức tự vệ vũ trang HSSV trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng thành phố tháng 3-1975.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Lịch sử, Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam khi nghiên cứu về phong trào đấu tranh đô thị miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
  • Các tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam tại miền Trung sử dụng làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước cho thanh thiếu niên học đường.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng Đoàn Học sinh Đà Nẵng được thành lập trong hoàn cảnh nào và cơ cấu ban đầu gồm những ai? Tổng Đoàn Học sinh Đà Nẵng được thành lập vào ngày 17-7-1971 tại Tịnh xá Ngọc Cơ (đường Hoàng Diệu, Đà Nẵng). Hội nghị gồm 37 đại biểu đại diện cho 3 vạn học sinh các trường trung học toàn thành phố, thông qua Chương trình hành động và bầu Ban Chấp hành lâm thời do Đặng Thanh Tịnh làm Chủ tịch và Lương Thanh Liêm làm Tổng Thư ký.

2. Sự kiện chống cuộc bầu cử Tổng thống độc diễn ngày 3-10-1971 tại Đà Nẵng diễn ra với quy mô như thế nào? Phong trào đã lôi cuốn hàng vạn quần chúng và học sinh xuống đường, tấn công đốt cháy Nhà Thông Tin thành phố tại ngã tư Hùng Vương - Yên Bái, đập phá và đốt thùng phiếu tại toàn bộ 54 điểm bỏ phiếu trên địa bàn Đà Nẵng. Trong cuộc đàn áp của cảnh sát dã chiến, hai học sinh trường Trung học Bồ Đề là Nguyễn Bá Tần (18 tuổi) và Nguyễn Tam Vàng (15 tuổi) đã hy sinh, biến lễ tang ngày 6-10-1971 thành cuộc biểu tình chính trị khổng lồ làm tê liệt thành phố.

3. Những trường trung học nào tại Đà Nẵng được Nhà nước cách mạng trao tặng danh hiệu thi đua kháng chiến? Theo các ghi nhận trong văn bản, phong trào tuổi trẻ Đà Nẵng được tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Ba; trường Phổ thông Trung học Phan Châu Trinh được trao tặng danh hiệu "Trường trung học anh dũng", và trường Trung học Bồ Đề được trao tặng danh hiệu "Trường trung học quyết thắng".

4. Chính quyền Sài Gòn đã thực hiện chiến dịch đàn áp nào làm tổn thất nghiêm trọng Ban Chấp hành Tổng Đoàn Học sinh Đà Nẵng? Vào tháng 5-1972, thông qua "Chiến dịch Phượng hoàng" trên toàn miền Nam kết hợp hai chiến dịch "Sao chổi 1" và "Sao chổi 2" tại Đà Nẵng, đối phương đã vây ráp và bắt giữ gần 100 cán bộ và thành viên cốt cán của Tổng Đoàn Học sinh Đà Nẵng, khiến tổ chức chịu tổn thất lớn về lực lượng trước khi từng bước khôi phục lại cơ sở.

5. Lực lượng HSSV Quảng Nam - Đà Nẵng đã sử dụng các hình thức văn hóa - văn nghệ nào để đấu tranh chính trị? HSSV đã xuất bản tờ báo Tiếng gọi Học sinh, tổ chức các phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe", "Tiếng hát những đêm không ngủ", biểu diễn các tác phẩm kịch thơ như Tiếng gọi Lam Sơn (Trần Quang Long), hoạt cảnh Việt Nam hóa chiến tranh thay màu da trên xác chết, và vở kịch Dưới chân tượng thần no ấm (Lê Hoàng Thao) tại trường Phan Châu Trinh để vạch trần tội ác chiến tranh và cổ vũ tinh thần hòa bình, thống nhất.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Ngọc Dung đã phục dựng một cách chân thực và có hệ thống phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Quảng Nam - Đà Nẵng giai đoạn 1969–1975. Thông qua phương pháp luận sử học chặt chẽ và nguồn tư liệu phong phú kết hợp phỏng vấn nhân chứng, công trình khẳng định vai trò ngòi pháo xung kích của tuổi trẻ học đường đô thị xứ Quảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là công trình nghiên cứu lịch sử địa phương có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn rõ rệt đối với công tác nghiên cứu và giáo dục truyền thống.