Phong Trào Đấu Tranh Của Học Sinh, Sinh Viên Quảng Nam-Đà Nẵng Giai Đoạn 1969-1975

Khám phá phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Quảng Nam - Đà Nẵng giai đoạn 1969 - 1975, một phần quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

1975

69
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT PHONG TRÀO HỌC SINH, SINH VIÊN QUẢNG NAM-ĐÀ NẴNG TRƯỚC NĂM 1969

1.1. Vài nét về vùng đất và con người Quảng Nam - Đà Nẵng

1.2. Truyền thống yêu nước của nhân dân QN-ĐN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phong Trào Học Sinh Sinh Viên QN ĐN 1969 1975

Phong trào học sinh sinh viên Quảng Nam Đà Nẵng (QN-ĐN) giai đoạn 1969-1975 là một phần quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Học sinh, sinh viên đóng vai trò là lực lượng xung kích, tạo nên những biến động chính trị lớn ở đô thị. Họ góp phần làm suy yếu chính quyền Sài Gòn và làm thất bại chiến lược của Mỹ. Tại QN-ĐN, phong trào này đã góp phần vào 76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng năm 1966, một đỉnh cao của phong trào đô thị miền Nam. Giai đoạn 1969-1975 chứng kiến sự phát triển mới về chất của phong trào, với nhiều hình thức và biện pháp đấu tranh đa dạng, thu hút đông đảo lực lượng tham gia. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu về giai đoạn này, gây khó khăn cho việc đánh giá đầy đủ vai trò của học sinh sinh viên trong cuộc kháng chiến. Khóa luận này mong muốn góp phần làm sáng tỏ những đóng góp to lớn của phong trào đấu tranh này.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử và Vai Trò của Học Sinh Sinh Viên

Học sinh, sinh viên là bộ phận quan trọng của tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Họ có những đóng góp to lớn trong phong trào giải phóng dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, họ thể hiện vai trò là lực lượng xung kích trong các phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị. Họ đã gây rối loạn nội bộ chính quyền Sài Gòn và làm thất bại âm mưu của Mỹ. Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, họ góp phần làm nên 76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng (1966), đỉnh cao của phong trào đô thị miền Nam. Đây là lực lượng không thể thiếu trong lịch sử phong trào sinh viên Quảng Nam Đà Nẵng.

1.2. Mục Tiêu và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Phong Trào

Đề tài tập trung nghiên cứu phong trào học sinh, sinh viên QN-ĐN trong giai đoạn 1969-1975. Nhiệm vụ chính là làm rõ nguyên nhân, diễn biến và mục tiêu đấu tranh của học sinh, sinh viên. Đồng thời, khóa luận sẽ rút ra tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của phong trào. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung ở thành phố Đà Nẵng và hai thành phố Hội An, Tam Kỳ (Quảng Nam). Nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí, sự đóng góp của lực lượng học sinh sinh viên trong kháng chiến chống Mỹ.

II. Thách Thức và Khó Khăn Nghiên Cứu Phong Trào Sinh Viên QN ĐN

Việc nghiên cứu phong trào học sinh sinh viên Quảng Nam Đà Nẵng giai đoạn 1969-1975 đối mặt với nhiều thách thức. Các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn hạn chế, chủ yếu là hồi ký của những người trực tiếp tham gia. Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá khách quan và toàn diện vai trò của lực lượng sinh viên yêu nước. Việc thiếu các phân tích, đánh giá sâu sắc cũng như tái hiện đầy đủ các sự kiện, đóng góp của phong trào là một trở ngại lớn. Tuy nhiên, những tài liệu hiện có vẫn là nguồn tham khảo quý giá, cung cấp những thông tin ban đầu cho việc nghiên cứu.

2.1. Hạn Chế Về Nguồn Tài Liệu Nghiên Cứu Phong Trào

Giới Sử học cả nước và địa phương vẫn chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về phong trào học sinh, sinh viên Quảng Nam - Đà Nẵng ở giai đoạn này. Các công trình nghiên cứu chủ yếu là hồi ký của những người trực tiếp tham gia phong trào như Lê Công Cơ, Hồ Duy Lệ, Hoàng Phủ Ngọc Phan… Điều này gây nên những khó khăn trong vấn đề đánh giá vai trò của lực lượng học sinh sinh viên đối với phong trào đấu tranh đô thị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng.

2.2. Đánh Giá Khách Quan Vai Trò của Sinh Viên Trong Chiến Tranh

Việc đánh giá khách quan vai trò của sinh viên trong chiến tranh Việt Nam gặp nhiều khó khăn do thiếu các nghiên cứu chuyên sâu và phân tích đa chiều. Các hồi ký thường mang tính chủ quan, khó đảm bảo tính toàn diện và chính xác. Cần có sự đối chiếu, so sánh với các nguồn tài liệu khác để có được cái nhìn khách quan nhất về những đóng góp và hạn chế của phong trào.

III. Các Hình Thức Đấu Tranh Tiêu Biểu Của Sinh Viên QN ĐN 1969 1975

Phong trào đấu tranh sinh viên Quảng Nam Đà Nẵng giai đoạn 1969-1975 diễn ra với nhiều hình thức đa dạng và sáng tạo. Từ các cuộc biểu tình, xuống đường, bãi khóa đến các hoạt động văn hóa, văn nghệ, phong trào đã thu hút đông đảo sinh viên yêu nước tham gia. Các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, phản đối chế độ Việt Nam Cộng Hòa diễn ra mạnh mẽ, gây tiếng vang lớn trong dư luận. Phong trào cũng thể hiện tinh thần đoàn kết, phối hợp với các tầng lớp nhân dân khác để tạo nên sức mạnh tổng hợp.

3.1. Biểu Tình Xuống Đường và Bãi Khóa Hình Thức Đấu Tranh Trực Diện

Các cuộc biểu tình của sinh viên diễn ra thường xuyên, thể hiện sự phản đối mạnh mẽ đối với chính quyền Sài Gòn và chiến tranh xâm lược của Mỹ. Phong trào xuống đường của sinh viên thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, tạo nên sức ép lớn đối với chính quyền. Bãi khóa là một hình thức đấu tranh hiệu quả, làm gián đoạn hoạt động của các trường học và gây sự chú ý của dư luận.

3.2. Văn Hóa Văn Nghệ Vũ Khí Sắc Bén Của Sinh Viên

Phong trào văn hóa văn nghệ sinh viên phát triển mạnh mẽ, với nhiều tác phẩm thơ, văn, nhạc, họa thể hiện tinh thần yêu nước, chống chiến tranh. Các hoạt động văn nghệ được tổ chức rộng rãi, thu hút đông đảo khán giả và trở thành diễn đàn để sinh viên bày tỏ quan điểm, tư tưởng của mình. Đây là một hình thức đấu tranh mềm dẻo nhưng hiệu quả, góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc.

IV. Ảnh Hưởng và Tác Động Của Phong Trào Sinh Viên QN ĐN

Ảnh hưởng của phong trào sinh viên QN-ĐN giai đoạn 1969-1975 là vô cùng to lớn. Phong trào đã góp phần quan trọng vào việc làm suy yếu chính quyền Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Phong trào cũng góp phần nâng cao ý thức chính trị, tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Những bài học kinh nghiệm từ phong trào vẫn còn giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

4.1. Góp Phần Suy Yếu Chính Quyền Sài Gòn và Thắng Lợi 1975

Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên đã gây ra những rối loạn chính trị, xã hội, làm suy yếu bộ máy chính quyền Sài Gòn. Các cuộc biểu tình, xuống đường, bãi khóa đã tạo ra sức ép lớn, buộc chính quyền phải nhượng bộ. Phong trào cũng góp phần làm lung lay tinh thần binh lính, cán bộ của chính quyền Sài Gòn, tạo điều kiện cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

4.2. Nâng Cao Ý Thức Chính Trị và Tinh Thần Yêu Nước

Phong trào đã góp phần nâng cao ý thức chính trị, tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Các cuộc đấu tranh đã giúp mọi người hiểu rõ hơn về bản chất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và âm mưu của đế quốc Mỹ. Phong trào cũng khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý chí quyết tâm giải phóng đất nước.

V. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Phong Trào Đấu Tranh Sinh Viên QN ĐN

Phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên QN-ĐN giai đoạn 1969-1975 để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học về tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất, sự sáng tạo trong đấu tranh. Đó còn là bài học về vai trò của quần chúng nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những bài học này cần được kế thừa và phát huy trong giai đoạn hiện nay.

5.1. Tinh Thần Đoàn Kết và Ý Chí Kiên Cường Bất Khuất

Sức mạnh của phong trào nằm ở tinh thần đoàn kết, sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng. Ý chí kiên cường, bất khuất, không ngại hy sinh gian khổ là yếu tố quan trọng giúp phong trào vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Đây là những phẩm chất cần được phát huy trong mọi hoàn cảnh.

5.2. Vai Trò Của Thế Hệ Trẻ Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Đất Nước

Phong trào đã khẳng định vai trò quan trọng của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ trẻ cần phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, góp phần vào sự phát triển của đất nước. Cần tạo điều kiện để thế hệ trẻ được học tập, rèn luyện và cống hiến.

VI. Giá Trị Lịch Sử và Tương Lai Của Phong Trào Sinh Viên QN ĐN

Phong trào học sinh sinh viên Quảng Nam Đà Nẵng giai đoạn 1969-1975 là một trang sử hào hùng của dân tộc. Phong trào đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những giá trị lịch sử của phong trào cần được trân trọng, gìn giữ và phát huy. Phong trào cũng là nguồn cảm hứng cho thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

6.1. Gìn Giữ và Phát Huy Giá Trị Lịch Sử Của Phong Trào

Cần có những công trình nghiên cứu chuyên sâu, những hoạt động tuyên truyền, giáo dục để thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về phong trào. Cần xây dựng các di tích lịch sử, bảo tàng để lưu giữ những kỷ niệm, hiện vật liên quan đến phong trào. Cần tổ chức các hoạt động kỷ niệm, tri ân những người đã có đóng góp cho phong trào.

6.2. Nguồn Cảm Hứng Cho Thế Hệ Trẻ Xây Dựng Đất Nước

Phong trào là nguồn cảm hứng cho thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ trẻ cần học tập tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất, sự sáng tạo trong đấu tranh của các thế hệ đi trước. Cần phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.

05/06/2025
Luận văn phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên quảng nam đà nẵng giai đoạn 1969 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho việc triển khai chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Quân đội Mỹ phối hợp với quân đội Sài Gòn đã tiến hành nhiều cuộc tiến công “tìm diệt” và “bình định” ở quanh các nơi chiếm đóng và ráo riết thực hiện phương châm “giết sạch, đốt sạch, phá sạch”. Từ đầu năm 1965, phong trào cách mạng QN-ĐN được củng cố và từng bước phát triển. Song song với phong trào của đoàn viên, thanh niên ở nông thôn là “Năm xung phong” thì ở thành phố các cấp bộ Đoàn đã phát động phong trào “Xếp bút nghiên” ra căn cứ làm cách mạng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương và Khu Đoàn 5, Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp thanh niên các cấp đã liên tục tiến hành nhiều biện pháp giáo dục cho tuổi trẻ toàn tỉnh tư tưởng “Không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ, quyết đánh thắng Mỹ”. Quyết tâm này đã trở thành hành động cụ thể của tuổi trẻ QN-ĐN lúc này. Ngày 16-7-1965, máy bay Mỹ ném bom xuống trường tiểu học Mân Quang làm 45 học sinh chết. Bức xúc trước tội ác này, nhân dân Hòa Vang đã tham gia đấu tranh đưa xác các em tiến thẳng về Đà Nẵng, bao quanh tòa thị chính, hô vang các khẩu hiệu lên lên án tội ác của Mỹ, đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, bồi thường thiệt hại… Phong trào học sinh, sinh viên ở QN-ĐN trong giai đoạn này đã chứng tỏ rằng phong trào không ngừng phát triển từ thấp đến cao, càng về sau càng quyết liệt.

Tiêu biểu là sự kiện học sinh, sinh viên góp phần làm chủ Đà Nẵng trong 9 22 ngày đêm trong phong trào đấu tranh phản đối “Hiến chương Vũng Tàu” năm 1964. Thông qua phong trào, ý thức dân tộc đã không ngừng được nâng lên, sự giác ngộ chính trị cũng ngày được nâng cao. Giai đoạn 1966-1968 Bước sang năm 1966, tình hình chiến trường ở QN-ĐN chuyển sang một giai đoạn mới ác liệt hơn. Sự có mặt của quân đội Mỹ và tội ác do chúng gây ra làm cho mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trở nên sâu sắc hơn.

Phong trào đấu tranh của nhân dân chỉ chờ cơ hội bùng nổ. Việc Mỹ cách chức Nguyễn Chánh Thi đã gây sự phẫn nộ trong sĩ quan, binh lính Vùng I chiến thuật và các lực lượng đối lập với Thiệu - Kỳ, nhất là Phật giáo, là cái cớ để phát động phong trào đấu tranh chống Mỹ - Thiệu -Kỳ. Nhân cơ hội nổi dậy của quần chúng, cơ sở cách mạng ở Đà Nẵng đã cử anh Vĩnh Kha - Chủ tịch Tổng Hội sinh viên, học sinh cùng một số thanh niên là cơ sở của ta tham gia vào các tổ chức thanh niên, học sinh, Phật tử… để hướng các hoạt động đấu tranh theo chủ trương của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Tại thị xã Hội An, ngày 12-3-1966, lực lượng học sinh đã dùng xe Jeep của Ty Điền Địa Quảng Nam, có biểu ngữ và máy phóng thanh, chạy khắp các ngã đường kêu gọi nhân dân thị xã tham gia đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Kỳ.

Tại Tam Kỳ, chiều ngày 13-3-1966, dưới sự chỉ đạo của “Ủy ban quân dân Vùng I chiến thuật”, lực lượng quần chúng gồm Phật tử, thanh niên, giáo viên, học sinh các trường trung học đã chiếm Ty Thông tin Quảng Tín, lấy nơi đây làm trụ sở và dùng xe phóng thanh của cơ quan này chạy khắp các ngả đường để kêu gọi nhân dân tham gia đấu tranh bài trừ tham nhũng, ủng hộ Nguyễn Chánh Thi. Cùng ngày này tại Đà Nẵng, lực lượng thanh niên học sinh đã ra lời kêu gọi truyền đi khắp thành phố, kêu gọi đồng bào vùng dậy đấu tranh lật đổ ngụy quyền tay sai, đòi hòa bình, độc lập. Tất cả các học sinh ở các trường trung học đều bãi khóa xuống đường cùng với phong trào quần chúng đình công, bãi chợ. 23 Ngày 15-3-1966, Tổng Hội sinh viên và Đoàn sinh viên Phật tử Huế cử đại diện vào Đà Nẵng để phối hợp và hỗ trợ phong trào đấu tranh.

Ngày 18-3-1966, tại hội trường Trưng Vương, lực lượng này đã cùng với thanh niên, sinh viên và Phật tử Đà Nẵng tổ chức hội thảo bàn về “tác hại của đồng đô la” và “vấn đề cướp nước, bán nước”, lên án sự xâm lược của Thiệu - Kỳ. Phong trào đấu tranh ở QN- ĐN nhờ đó được kích thích và phát triển mạnh mẽ. Ngày 24-3-1966, đại đội thanh niên học sinh “bài trừ gian thương” ra đời. Đà Nẵng đặt trong tình trạng khẩn trương.

Các tổ chức học sinh biệt động thành, tổ học sinh cảm tử, đội tự vệ thanh niên công nhân và thanh niên học sinh vũ trang phát huy tác dụng xung kích hoạt động trên tất cả các lĩnh vực đấu tranh trong phong trào quần chúng. Từ cuối tháng 3, phong trào chuyển sang một bước phát triển mới, cả Đà Nẵng vùng lên đã làm tê liệt mọi hoạt động của địch trong thành phố. Học sinh, sinh viên tổng bãi khóa, thanh niên công nhân tổng đình công… làm cho chính quyền hết sức lúng túng. Ngày 02-04-1966, tại Đà Nẵng, công nhân và công chức đình công, bãi thị, học sinh bãi khóa.

Dự đoán chính quyền Sài Gòn sẽ đàn áp phong trào, tại Tam Kỳ, Quốc dân đảng lôi kéo một bộ phận thanh niên, học sinh để thành lập “Ban đại diện học sinh liên trường Quảng Tín” và rải truyền đơn phản đối các cuộc đấu tranh của “Lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng”. Ngày 2-4-1966, tại Hội An, học sinh các trường trung học và tiểu học tiếp tục bãi khóa để tham gia cuộc mít tinh tại chùa Tỉnh hội Phật giáo. Ngày 04-04, Thiệu - Kỳ đã đưa quân từ Sài Gòn ra để đàn áp phong trào, nhưng trước làn sóng đấu tranh của “lực lượng thanh niên tranh thủ cách mạng” chống trả quyết liệt buộc chúng phải rút về. Phản ứng trước việc Thiệu-Kỳ đưa quân ra đàn áp ở Đà Nẵng, Tổng hội sinh viên Huế thành lập “Đoàn sinh viên quyết tử” (5-4) gồm 500 người và sau đó cử một bộ phận vào chi viện Đà Nẵng và Tam Kỳ.

Ngày 13-4-1966, một đơn vị khoảng 200 người của Tổng hội sinh viên và Đoàn sinh viên quyết tử của Huế có vũ trang tiến vào Tam Kỳ. Lực lượng này cùng thanh niên, học sinh, Phật tử Tam Kỳ 24 tấn công mạnh vào bọn phản động làm cho Tỉnh trưởng Quảng Tín Nguyễn Thành Toại buộc phải xin từ chức. Cùng với các tầng lớp, giai cấp, thành phần khác nhau trong xã hội, lực lượng HSSV đã tham gia vào cuộc nổi dậy làm chủ thành phố Đà Nẵng trong 76 ngày đêm (10/3 – 24/5/1966). Tuy không giành được thắng lợi trọn vẹn, nhưng xuyên suốt phong trào đã cho thấy được tinh thần đòi độc lập và dân chủ.

Phong trào thực sự là một cuộc nổi dậy có quy mô lớn, đã chứng tỏ được sự liên kết hành động của nhân dân Đà Nẵng với các đô thị miền Nam, trong đó có cả lực lượng HSSV. Ngày 3-9-1967, Thiệu - Kỳ tổ chức bầu cử Tổng thống và Thượng nghị viện để hợp thức hóa việc cầm quyền của chúng. Nhân dân toàn thành phố đã xuống đường đấu tranh chống Mỹ - ngụy. Ngày 5-9-1967, “Lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên tranh thủ dân chủ” kêu gọi nhân dân thành phố xuống đường lên án cuộc bầu cử gian lận của Thiệu - Kỳ, không thừa nhận kết quả và đòi xóa bỏ cuộc bầu cử này.

Nhìn chung, giai đoạn 1966-1968, phong trào HSSV diễn ra rộng khắp ở các đô thị QN - ĐN và được duy trì trong mọi điều kiện. Trong giai đoạn này phong trào đã thể hiện được tinh thần xung kích, đi đầu, luôn có mặt ở mọi nơi, những lúc khó khăn nhất của lực lượng học sinh, sinh viên. Lực lượng học sinh, sinh viên đã cùng các tầng lớp nhân dân QN-ĐN đạt đến đỉnh cao trong sự kiện 76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng (1966), gây tiếng vang trong cả nước và được báo chí đưa tin. Tóm lại, phong trào học sinh, sinh viên ở QN - ĐN trước năm 1969 diễn ra liên tục, mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú.

Phong trào ở các giai đoạn sau phát triển trên một bước cao hơn so với giai đoạn trước. Giai đoạn 1954-1968, phong trào đi từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố, đòi bình đẳng tôn giáo, … dần đi đến tấn công trực diện kẻ thù. Phong trào đã góp phần cùng với các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân lật đổ nền “Đệ nhất cộng hòa” của Ngô Đình Diệm, làm cho ngụy quyền ở các đô thị-nơi tưởng chừng như là hậu 25 phương vững chắc nhất của Mỹ và chính quyền tay sai trở nên rối loạn, khủng hoảng ngay từ bên trong. Nhận định về phong trào, Tỉnh ủy Quảng Nam đã có nhận xét: “Trong những năm gần đây, phong trào của Đoàn thanh niên có nhiều tiến bộ, nhất là tư tưởng và tổ chức”[2, tr.

Chương 2: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA HỌC SINH, SNH VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN 1969 – 1975 Ở QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 2. Chính sách thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Quảng Nam - Đà Nẵng giai đoạn 1969 - 1975 Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân là cột mốc đánh dấu sự thất bại của “chiến tranh cục bộ”, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ. Sau khi trúng cử Tổng thống, chính thức bước chân vào Nhà Trắng (20-1-1969), Nich-xơn và những người cầm quyền nước Mỹ nhận thấy những thất bại liên tiếp của Mỹ trên thế giới, nhất là ở Việt Nam đã và đang làm biến đổi cán cân trên thế giới không có lợi cho Mỹ. Vì vậy, Mỹ chủ trương điều chỉnh chiến lược hòng tiếp tục thực hiện chính sách bá chủ toàn cầu và duy trì thống trị ở miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới.

Đế quốc Mỹ đề ra chiến lược toàn cầu mới mang tên “Học thuyết Ních xơn” và chiến lược quân sự “răn đe thực tế” thay cho chiến lược “phản ứng linh hoạt” đã bị phá sản. “Học thuyết Ních xơn” được thực hiện thí điểm ở Việt Nam và Đông Dương, học thuyết này được vận dụng cụ thể trong những chiến lược chiến tranh của từng nước. Ở Việt Nam, “học thuyết Ních xơn” được cụ thể hóa bằng chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh. Chiến lược này được đề ra trên cơ sở điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh của Giônxơn với mục đích rút dần quân Mỹ về nước, tránh những 26 tổn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phong Trào Đấu Tranh Của Học Sinh, Sinh Viên Quảng Nam-Đà Nẵng (1969-1975)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phong trào đấu tranh của học sinh và sinh viên tại khu vực Quảng Nam-Đà Nẵng trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của Việt Nam. Tài liệu không chỉ nêu bật những hoạt động và sự kiện quan trọng mà còn phân tích vai trò của giới trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Độc giả sẽ nhận thấy được sức mạnh của tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước, cũng như những ảnh hưởng lâu dài của phong trào này đến giáo dục và xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục và lịch sử trong giai đoạn này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ lịch sử việt nam giáo dục ở việt nam trong đại chiến thế giới thứ hai so sánh với trường hợp triều tiên, nơi so sánh hệ thống giáo dục giữa Việt Nam và Triều Tiên trong bối cảnh chiến tranh. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ lịch sử hệ thống giáo dục dưới chế độ việt nam cộng hòa 1954 1975 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hệ thống giáo dục trong giai đoạn Việt Nam Cộng Hòa. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ lịch sử xây dựng và phát triển giáo dục phổ thông ở hà nội giai đoạn 1954 1975 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của giáo dục phổ thông tại Hà Nội trong cùng thời kỳ. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan.