Chương 1: Sự hình thành đội ngũ công nhân Thái Nguyên. Chương 2: Đời sống công nhân tỉnh Thái Nguyên và phong trào đấu tranh giai đoạn 1897 - 1945 Chương 3: Đặc điểm, vai trò của phong trào công nhân tỉnh Thái Nguyên (1897 – 1945) 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ Chƣơng 1 SỰ HÌNH THÀNH ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THÁI NGUYÊN 1. Các điều kiện hình thành đội ngũ công nhân Thái Nguyên 1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Tỉnh Thái Nguyên hiện nay có diện tích là 3.541 km2 thuộc khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ, là vùng nối giữa thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền núi Đông Bắc.
Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Cạn, phía Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía Tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ. Thời Hùng Vương, vùng đất Thái Nguyên ngày nay thuộc bộ Vũ Định. Thời thuộc Hán, Thái Nguyên thuộc quận Giao Chỉ. Thời kì nhà Đường thống trị Thái Nguyên nằm trong đất châu Long và châu Vũ Nga thuộc An Nam đô hộ phủ.
Dưới triều Đinh, Tiền Lê (thế kỉ X), Thái Nguyên thuộc châu Vũ Lặc. Thời nhà Trần, năm 1397 châu Thái Nguyên đổi thành trấn Thái Nguyên. Trong thời kì nhà Minh chiếm nước ta (1407-1427), trấn Thái Nguyên đổi thành phủ Thái Nguyên. Năm 1428, vào thời nhà Lê, Lê Thái Tổ chia đất nước thành năm đạo, Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo.
Năm 1466, Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nước, từ năm đạo chia nhỏ thành 12 đạo thừa tuyên, Thái Nguyên được gọi là Thái Nguyên thừa tuyên. Năm 1469, Thái Nguyên thừa tuyên đổi thành thừa tuyên Ninh Sóc. Đến năm 1483, Ninh Sóc thừa tuyên được gọi là xứ Thái Nguyên. Năm 1677, Thái Nguyên gọi là trấn, gồm hai phủ Phú Bình và Thông Hoá.
Đầu triều Nguyễn (năm 1802), Thái Nguyên vẫn gọi là trấn. Năm 1831, Thái Nguyên chính thức được gọi là tỉnh. Xưa nay, tỉnh Thái Nguyên vẫn thường được xem như một nét gạch nối giữa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với vùng đại ngàn Việt Bắc. Với địa thế "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ", nên ngay trong thời kỳ chống sự xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc, Thái Nguyên đã được cha ông ta chọn là một trong những phòng tuyến quan trọng nhất nhằm bảo vệ cũng như làm bàn đạp phản công để tiêu diệt quân địch.
Như nhận định của Nguyễn Trãi 14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ trong Dư địa chí thì Thái Nguyên là “phên giậu thứ hai về phương bắc”. Theo Công sứ Pháp Echinard trong cuốn Tiểu chí tỉnh Thái Nguyên: “Từ các thời kì lịch sử cổ xưa, tỉnh Thái Nguyên đã đóng vai trò mà vị trí địa lí đã quyết định cho nó, là vai trò tỉnh nằm giữa các tỉnh miền châu thổ và miền thượng du, qua các biến cố lịch sử, Thái Nguyên đã từng là một vị trí bản lề” [1, tr. Khí hậu Thái Nguyên được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2 °C) là 13,7°c.
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1300 - 1750 giờ, phân bố tương đối đều cho các tháng trong năm. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.500mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một hệ thống sinh thái đa dạng và bền vững có giá trị đối với nông, lâm nghiệp. Địa hình Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi, diện tích đồi núi có độ cao trên 100m chiếm 1/3 diện tích, còn 2/3 diện tích là vùng núi có độ cao dưới 100 m.
Đây chính là điều kiện hết sức thuận lợi để tỉnh Thái Nguyên phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp. Thái Nguyên nằm trong vùng vành đai sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, rất giàu về tài nguyên khoáng sản. Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, thì vào giữa thế kỉ XVIII người Thiều Châu Trung Quốc đã đi lại làm mỏ ở đây không hạn chế. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi lại: Vàng có ở huyện Võ Nhai (mỏ Kim Hỉ, Thuần Mang, Sàng Mộc, Bảo Nang); kẽm đen ở huyện Võ Nhai (mỏ Làng Nho); sắt ở các huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, Phú Lương (mỏ Bảo Nang, mỏ Na Khôn, mỏ Quảng Khê, mỏ Cù Vân, mỏ Na Hóa, mỏ Phấn Mễ, mỏ Quảng Hòa); than đá có ở Phú Lương.
Huyện Định Hóa có bạc , đồng, chì, vàng [1], [5], [6], [36], [69]. 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ Cho đến thế kỷ XIX, Thái Nguyên là một trong những tỉnh có nghề khai mỏ quan trọng bậc nhất ở Việt Nam. Bảng 11 dưới đây đã thể hiện rõ sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác mỏ của tỉnh Thái Nguyên thời kì đó. Thống kê số lƣợng mỏ của nƣớc ta nửa đầu thế kỷ XIX Mỏ Vàng Bạc Đồng Thiếc Sắt Chì Gang Diêm Lưu Chu Tỉnh tiêu huỳnh sa Quảng Nam 1 1 1 Nghệ An 1 Thanh Hoá 1 Sơn Tây 2 3 2 Bắc Ninh 1 4 5 Hải Dương 1 Thái Nguyên 6 10 1 12 8 1 Tuyên Quang 8 1 2 2 1 4 1 1 Cao Bằng 4 4 Lạng Sơn 9 5 2 Hưng Hoá 4 2 5 5 1 Cộng 34 14 9 1 29 11 3 19 2 1 Toàn quốc 123 Nguồn: [57, tr.129] Sang đầu thế kỉ XX, trong quá trình khai thác thuộc địa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Công sứ Pháp Echinard đã ghi lại: Qua các thời đại trước, tỉnh này vẫn được người Trung Hoa cũng như người An Nam coi là nơi giàu khoáng sản các loại.
Những người Trung Hoa trước đây đã từng khai thác nhiều mỏ ở nơi này. Dấu vết công việc khai đào của họ mà người ta tìm thấy, là những bằng chứng về các hoạt động khai khoáng của họ. Cần phải tạo điều 16 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ kiện cho các sáng kiến được tự do nảy nở, rồi chúng ta sẽ có nhiều hi vọng, vì lòng đất ở đây chứa đựng không phải bàn cãi gì nữa, vàng bạc, bạc kẽm, chì pha bạc, sắt, than, có khi nằm sát ngay mặt đất, hay không sâu lắm [1, tr. Dân cư và truyền thống đấu tranh Tỉnh Thái Nguyên sớm trở thành địa bàn tụ cư của nhiều dân tộc.
Trước năm 1945, Thái Nguyên có 8 tộc người (Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’ Mông, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa). Mặc dù mỗi thành phần dân tộc ở Thái Nguyên mang những đặc điểm riêng về tiếng nói, trình độ sản xuất, bản sắc văn hóa, song tất cả đều có những nét tương đồng, hòa nhập trong cộng đồng và chung sống trên một lãnh thổ. Theo thống kê của Công sứ Echinard, dân số toàn tỉnh trước năm 1945 như sau: Bảng 1. Dân số tỉnh Thái Nguyên trƣớc năm 1945 STT Năm Dân số (người) 1 1905 70.55] Theo cuốn Địa chí Thái Nguyên, cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, người Kinh gồm khoảng 52.000 người, chiếm gần 70% dân số, sinh sống chủ yếu tại các huyện Phú Bình, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Đại Từ và một phần của các huyện Văn Lãng, Phú Lương và châu Võ Nhai.
Người Thổ, Dao, Nùng gồm khoảng 18.000 người sống chủ yếu tại các huyện Văn Lãng, Phú Lương, châu Võ Nhai và châu Định Hóa. Người Hoa gồm khoảng 100 người sống chủ yếu ở vùng Chợ Chu, số người này chủ yếu là toán người theo Lương Tam Kỳ và có nguồn gốc ở tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến (Trung Quốc) [74, 17 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www. Cho đến giữa những năm 20 của thế kỉ XX, dân số tỉnh Thái Nguyên hầu như không có gì thay đổi đáng kể, nếu không nói là giảm đi đôi chút so với năm 1905. Từ đầu những năm 30, do kết quả của chính sách di dân lập đồn điền, tốc độ tăng trưởng dân số tăng lên đáng kể.
Chỉ sau 27 năm (1905 – 1932), dân số toàn tỉnh Thái Nguyên đã tăng hơn 20.000 người, chiếm 22,7% tổng số dân năm 1932. Có thể nói, đến khi thực dân Pháp xâm lược, tỉnh Thái Nguyên không chỉ có vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng mà còn có nguồn nhân lực dồi dào. Đây chính là cơ sở quan trọng cho sự hình thành và phát triển của phong trào công nhân. Từ rất lâu đời, nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã có truyền thống đấu tranh bất khuất chống các thế lực ngoại xâm.
Năm 40, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã tập hợp dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng chiến đấu chống quân xâm lược nhà Đông Hán, “công phá châu quận”, góp phần giành lại nền độc lập, tự chủ trong một thời gian. Dưới triều đại Tiền Lê 981, nhân dân Thái Nguyên sát cánh cùng với quân dân cả nước do Lê Hoàn lãnh đạo đánh tan quân xâm lược Tống. Thế kỉ thứ XI, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Thái Nguyên đã góp sức người, sức của chống quân Tống sang xâm lược, tham gia trận quyết chiến chiến lược trên sông Như Nguyệt giành thắng lợi. Đặc biệt là đóng góp to lớn của Dương Tự Minh trong việc bảo vệ vùng biên cương phía Bắc của Tổ quốc.
Thế kỉ XIII, nhân dân Thái Nguyên đã góp phần cùng với vương triều Trần ba lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên giành thắng lợi. Thế kỉ XV, khi đất nước rơi vào ách đô hộ của giặc Minh, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã bùng lên mạnh mẽ ở Thái Nguyên như cuộc khởi nghĩa của Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bí, Chu Sư Nhan, Bùi Quý Thăng, Nguyễn Khắc Chẩn,…tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Ông Lão, phong trào “Áo đỏ”. Đặc biệt trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Thái 18 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ Nguyên đã đóng góp cho bộ chỉ huy nghĩa quân những tướng lĩnh tài giỏi, đặc biệt là Lưu Nhân Chú- một trong số không nhiều các tướng lĩnh tham gia hội thề Lũng Nhai và chỉ huy hầu hết các cuộc tập kích từ Chi Lăng đến Xương Giang và lập nhiều công lớn, được xếp vào hạng khai quốc công thần của triều Lê Sơ. Năm 1485, vua Lê Thánh Tông đã truy phong ông tước “Thái phó vinh quốc công”.
Bước sang thế kỉ XIX dưới vương triều Nguyễn, mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, phong trào đấu tranh của nhân dân bùng nổ mạnh mẽ.