Chương 1: Tổng quan về pháp luật phòng ngừa ô nhiễm biển do rác thải nhựa. Chương 2: Quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về phòng ngừa ô nhiễm biển do rác thải nhựa. Chương 3: Đề xuất giải pháp pháp lý hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm biển do rác thải nhựa. TÔNG QUAN VÈ PHÁP LUẬT PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM BIẾN DO RÁC THẢI NHựA 1.
Thực trạng và các nguồn ô nhiễm biển do rác thái nhựa.1 Thực trạng và tác động ô nhiễm biển do rác thải nhựa Biền và đại dương có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển của xã hội loài người. Bien và đại dương được các nhà khoa học công nhận là cội nguồn của sự sống trên trái đất. Quả thực không ai có thể phủ nhận là tất cả các quốc gia, dù có chế độ kinh tế - chính trị - xã hội, tiềm lực kinh tế quân sự khác nhau, không kể lớn hay nhỏ về mặt địa lý, có biển hay không có biển thì đều có những lợi ích thiết thực gắn liền với biển và đại dương. Với diện tích chiếm đến 71% diện tích của bề mặt trái đất [37], biển và đại dương thực sự là cái nôi của sự sống loài người.
Thế kỷ 21 được xem là Thế kỷ của biển và đại dương. Tuy nhiên, vai trò của biển và đại dương càng lớn, giá trị và lợi ích mà các quốc gia nhận được từ biển và đại dương càng nhiều thì đồng nghĩa biển và đại dương đang phải gồng mình hứng chịu sự ô nhiễm đang gia tăng về mức độ nghiêm trọng mà một trong những nguyên nhân gây ra chính là tình trạng ô nhiễm do rác thải nhựa. Ô nhiễm rác thải nhựa nói chung và ô nhiễm biển do rác thải nhựa nói riêng đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất mà các quốc gia ven biển đang phải đối mặt. Theo tính toán, lượng chất thải nhựa do con người thải ra trên phạm vi toàn cầu mồi năm đủ đề phủ kín 4 lần diện tích bề mặt trái đất.
Trong đó, riêng chất thải nhựa được đổ ra đại dương rơi vào khoảng 13 triệu tấn. Ngày nay, việc lạm dụng sử dụng sản phấm nhựa, nhất là túi ni-lông khó phân hủy, sản phẩm nhựa dùng một lần đã và đang để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường, vấn đề ô nhiễm nhựa, đặc 10 biệt là ô nhiễm nhựa đại dương là vấn đề thực sự đáng báo động, đã, đang và sẽ gây thiệt hại to lớn cho môi trường sinh thái [22]. Tình trạng ô nhiễm biển do rác thải nhựa đang là vấn đề nóng trên toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia ven biến. Chất thải nhựa đại dương trở thành mối nguy lớn cho môi trường biển bởi có số lượng lớn, đặc tính khó phân hủy trong môi trường biển và khả năng di chuyển xa.
Các loại rác thải nhựa thường gặp trong môi trường biển bao gồm nhựa Polypropylen (nhựa PP), nhựa Polyetylen (nhựa PE), và nhựa Polyvinylclorua (nhựa PVC). Theo công bố tại Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nay, tính trung bình, mồi km2 mặt nước biển trên thế giới chứa từ 13.000 mấu rác thải nhựa và 70% rác thải nhựa ở biển đó sẽ chìm xuống đáy biển và phá hoại các hoạt động sống ở đáy biển [41], Theo một nghiên cứu được công bố bởi Cơ quan nghiên cứu khoa học Australia (CSIRO) ước tính ít nhất có khoảng 14 triệu tấn vi nhựa có chiều rộng dưới 5mm, nằm sâu dưới đáy các đại dương trên thế giới. Các nhà khoa học Australia đã tiến hành thu thập và phân tích lõi các đáy đại dương nằm ờ sáu địa điềm xa xôi, cách bờ biển phía Nam vịnh Great Australian Bight của Australia khoảng 300km. Công trình này đã thu thập tất cả 51 mẫu trầm tích từ độ sâu 3km trở lên và kết quả xét nghiệm cho thấy số lượng nhựa dưới đáy đại dương trên thế giới có khả năng cao hơn 30 lần so với lượng nhựa trôi nổi trê bề mặt.
Sau khi loại trừ trọng lượng của nước, mỗi gam trầm tích chứa trung bình 1,26 mảnh vi nhựa. Các mảnh vi nhựa này có đường kính từ 5mm trở xuống, chù yếu xuất hiện do các vật dụng bằng nhựa có thể tích lớn hơn bị vỡ vụn thành các mảnh nhỏ chìm sâu xuống đáy đại dương. Các mảnh vi nhựa này có đường kính từ 5mm trở xuống, chủ yếu xuất hiện do các vật dụng bằng nhựa có thể tích lớn hơn bị vỡ vụn thành các mảnh nhở chìm sâu 11 xuông đáy đại dương. Việc tìm thây vi nhựa ở một vị trí xa xôi và ở độ sâu như vậy cho thấy rằng vi nhựa đã có độ bao phủ rất rộng trong lòng đại dương; đồng thời, vi nhựa đã nằm trong toàn bộ cột nước bao gồm từ bề mặt tới đáy đại dương [32].
Tính cho đến nay, thế giới đã sản xuất ra 8,3 tỉ tấn nhựa, trong đó có 6,3 tỉ tấn là rác thải nhựa, và chỉ có 9% rác thải nhựa được tái chế, 12% rác thải nhựa được đốt và 79% còn lại tồn tại trong môi trường tự nhiên, bao gồm cả môi trường biển. Theo ước tính, trung bình mồi năm đã có khoảng hơn 300 triệu tấn rác thải nhựa bị thải ra môi trường, trong đó có khoảng 8 triệu tấn bị thải ra biển. Theo ước tính của Tổ chức Bảo vệ môi trường biển Ocean Conservancy, đến năm 2025, cứ 3 tấn cá sẽ có 1 tấn rác thải nhựa và đến năm 2050 sẽ có hơn 12 tỷ tấn rác thải nhựa được chôn lấp hoặc xả thẳng ra đại dương [30], Hàng năm, việc các đại dương trên thế giới phải gồng mình tiếp nhận rác thải nhựa đã đe dọa nghiêm trọng môi trường sống của con người và sự sinh tồn của các loài động thực vật trên biển. Theo ghi nhận, có hơn 270 loài có thể đã bị tốn thương bởi các ngư cụ bị vứt bỏ và các loại nhựa thải bỏ gây ra.
Ngoài ra, còn có 240 loài đã được ghi nhận có cá thể nuốt phải nhựa. Tác hại của nhựa ngày càng nghiêm trọng khi có tới hơn 800 loài sinh vật biển bị ảnh hưởng trực tiếp bởi rác nhựa, đó là chưa kể đến hậu quả đối với sức khỏe con người. 0 nhiễm ô nhiễm biển do rác thải nhựa đã trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe của hệ sinh thái biển và của loài người [42], Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, lượng rác thải ghi nhận hàng năm cho thấy lượng rác thải đã tăng gấp đôi trong vòng 15 năm qua và dự báo tăng từ 27 triệu tấn (năm 2018) lên 54 triệu tấn (năm 2030). Trong đó, nhựa và nilon chiếm 3,4 - 10,6%.
Đặc biệt, hơn 1 năm qua, do ảnh hưởng 12 của đại dịch Covid-19, các biện pháp giãn cách phòng dịch đã được thực hiện đã góp phần làm gia tăng khối lượng chất thải bao bì nhựa sử dụng một lần trở nên phổ biến do người tiêu dùng có xu hướng thông qua mua hàng ở siêu thị, thương mại điện tử, giao đồ ăn tại nhà.[28], Bờ biển Việt Nam dài 3260 Km, có 28/63 tỉnh, thành phố ven biển, tổng dân số khoảng 51 triệu người, mật độ dân số cao hơn trung bình cả nước 1,9 lần [41], Kinh tế biển phát triển mạnh ở hầu hết các tinh, thành phố Trung ương có biển. Tại Việt Nam trong những năm gần đây, đô thị hóa, phát triển kinh tế và chuyển đổi mô hình tiêu dùng - sản xuất đang diễn biến với một tốc độ khá nhanh. Điều này đồng nghĩa với lượng bao bì sử dụng một lần tăng lên nhanh chóng. Trong năm 2020, doanh thu từ ngành nhựa đạt khoảng 22,8 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 3,7 tỷ USD [28].
Như vậy, có thể thấy, doanh thu từ ngành nhựa đã đóng góp quan trọng cho phát triển ngành công nghiệp cũng như đóng góp lớn vào doanh thu từ các hoạt động kinh tế của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh doanh thu ấn tượng thu được từ ngành nhựa, thì nhũng con số đáng báo động về rác thải nhựa và rác thải nhựa đại dương cùng với ô nhiễm môi trường biển do rác thải nhựa đang là bài toán đau đầu của Việt Nam. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa hiện rất nghiêm trọng, lượng chất thải nhựa hiện vẫn ở mức rất cao. Đây là một “gánh nặng” nghiêm trọng cho môi trường.
Mồi năm, tống lượng chất thải rắn sinh hoạt ở nước ta thải ra môi trường là 25 triệu tấn. Trong đó, lượng chất thải được xử lý đốt hoặc sản xuất phân hữu cơ chỉ chiếm 30%, và hơn 70% lượng chất thải còn lại được chôn 13 lâp trực tiêp. Uớc tính riêng tại 02 thành phô lớn là Hà Nội và Thành phô Hô Chí Minh mỗi ngày phát sinh lần lượt 6.000 tấn rác, tỉ lệ chôn lấp của Hà Nội lên tới 90%, còn của TPHCM xấp xỉ 70%. Trong đó, lượng rác thải nhựa và túi nilon chiếm khoảng từ 08 - 12%.
số lượng rác thải nhựa được thải ra môi trường tăng dần theo từng năm [24]. Theo đánh giá của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng rác thải nhựa xả ra biển nhiều nhất trên thế giới. Chỉ số tiêu thụ nhựa trên đầu người tại Việt Nam tăng nhanh qua từng năm. Năm 1990, chỉ số tiêu thụ nhựa vào khoảng 3,8 kg/năm/người.
Đen năm 2018, chỉ sổ đó đã tăng lên 54 kg/năm/người, trong đó 37,43% sản phẩm là bao bì và 29,26% là đồ gia dụng. Tính riêng trong năm 2018, khối lượng rác thải nhựa ra biển ở Việt Nam dao động trong khoảng 0,28-0,73 triệu tấn/năm, tương đương 6% tổng lượng rác thải nhựa ra biển và đứng thứ 4 trên 20 quốc gia cao nhất [41 ]. Theo ước tính, mồi năm Việt Nam xả ra biển khoảng 0,28 đến 0,73 triệu tấn rác thải nhựa, chiếm 6% toàn thể giới, chỉ đứng sau một số nước như Trung Quốc, Indonesia và Philippines. Đây thực sự là những thống kê đáng báo động về tình trạng “ô nhiễm trắng”, tức ô nhiễm rác thải nhựa trên các vùng biển của Việt Nam [29].
Liên minh bảo tồn thiên nhiên cũa thế giới (IUCN) đã tiến hành hai đợt khảo sát mùa khô và mùa mưa trên 30 bãi biển tại 10 khu bảo tồn biển của Việt Nam để đánh giá số lượng và khối lượng rác thải. Và kết quả của các cuộc khảo sát đã ghi nhận 86.092 mảnh rác thải ở các kích cỡ khác nhau, khối lượng dao động từ 13 đến 3. Tính trung bình trên 100m chiều dài bãi biển sẽ có số lượng rác thải là 7.374 mảnh và 94,58 kg.