CHƯƠNG 1: CO SỎ LÝ LUẬN VÈ PHÒNG, CHÓNG THAM NHŨNG TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT • ĐỘNG • CỦA UBND CẤP HUYỆN 1. Nhũng vấn đề chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm tham nhũng Tham nhũng là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong 20 năm trở lại đây. Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, có tính lịch sử và khá phổ biến ở các nước.
Tham nhũng gắn liền với quá trình hình thành quyền lực xã hội. Trong các dạng quyền lực xã hội, quyền lực Nhà nước là một dạng quyền lực dễ bị lợi dụng. Vì vậy, tham nhũng từ lâu đã được nghiên cứu dưới nhiều phương diện và góc độ khác nhau như: kinh tế, chính trị, triết học, tâm lý xã hội, hình sự. Thậm chí, ngay trong một quốc gia, ở mồi giai đoạn lịch sử khác nhau, quan niệm về tham nhũng cũng có sự thay đổi nhất định.
Vì vậy, mồi ngành khoa học đều nghiên cứu hiện tượng này theo những các tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Dưới góc độ xã hội học, tham nhũng được biểu hiện ở những thiệt hại mà nó gây ra cho xã hội, trạng thái, cơ cấu và biến động của tham nhũng phụ thuộc vào những thay đối đang diễn ra trong xã hội. Dưới góc độ chính trị thì tham nhũng được coi là sự tha hóa của Nhà nước, mà một trong những biểu hiện đó là tình trạng người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ của mình để vụ lợi cho cá nhân. Dưới góc độ của kinh tế, tham nhũng không chỉ gây ra những thiệt hại làm thất thoát tài sản Nhà nước, của nhân dân mà còn phá hoại, cản trở việc thực hiện các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Xét về phương diện ngữ nghĩa, theo tiếng Hán, tham nhũng là từ ghép, gồm 2 từ là từ “tham” và từ “nhũng”. Từ “tham” có nghĩa là tham lam, chỉ sự hám lợi, tư lợi. Từ “nhũng” có nghĩa là nhũng tạp, chỉ sự lợi dụng quyền hạn, 12 trách nhiệm được giao đê thỏa mãn lòng tham, lợi ích cá nhân. Theo cách viêt tiếng Hán, tham nhũng có nghĩa là ham muốn tiền bạc và hạch sách đòi hỏi [43].
Còn trong tiếng Anh, thuật ngữ tham nhũng xuất hiện từ thời tiếng Anh trung cổ, thông qua tiếng Pháp cổ có nguồn gốc từ tiếng La tinh, được biểu hiện dưới danh từ “corruption”. Theo từ điến Oxford, “corruption” là sự bóp méo hay phá hoại tính liêm chính trong thực thi công vụ bằng cách hối lộ hoặc đối xử thiên vị” [67]. Như vậy, khái niệm tham nhũng mang hàm ý là lạm dụng, phá hoại, được sử dụng gắn với quan chức thường được xuất phát từ những nghĩa gốc như thiếu sự thanh liêm và trung thực, lợi dụng chức vụ để đạt được mục đích bất lương, hành động không đúng, vô trách nhiệm với bổn phận được giao [65]. Cách tiếp cận này tương đối rộng, xem xét tham nhũng không chỉ ớ khu vực công mà bao gồm toàn bộ các hoạt động của đời sống xã hội có tố chức; không chỉ mô tả các hành vi có mục đích tư lợi, mà bao gồm cả các hành vi trái với luân thường, đạo lý.
Dưới góc độ luật học, trước khi các Công ước về phòng, chống tham nhũng được thông qua, trên thế giới đã có nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế bàn về chống tham nhũng, chẳng hạn như: Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về chống tham nhũng tại Washington (Mỹ) năm 1983; Hội nghị quốc tế bàn về các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng tại Trung Quốc năm 1995. Mồi tổ chức quốc tế, mồi quốc gia đều xây dựng cho mình những khái niệm về tham nhũng, nhằm tạo điều kiện cho việc ngăn chặn và đẩy lùi hành vi này. Chẳng hạn như theo Công ước Liên hợp quốc (UN) về phòng chống tham nhũng (UNCAC) xác định tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng. Công ước này cũng nêu rõ các hành vi tham nhũng bao hàm: hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn lấy cắp, tham ô tài sản nhà nước; lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêng thông qua việc sử dụng các quy chế chính thức một cách không chính thức; tạo sự xung đột về thứ tự quan tâm 13 giữa trách nhiệm đôi với xã hội và lợi ích cá nhân đê mưu câu trục lợi [48, 18- 19].
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực công cộng nhàm đạt được lợi ích cá nhân [58, 9]. Còn tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transperency International - TI) một tổ chức phi chính phủ ra đời năm 1993 nhằm bài trừ nạn tham nhũng đã đưa ra định nghĩa tham nhũng là hành vi của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ lợi ích cá nhân [71]. Tại Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của [70]. Theo Từ điển Luật học Việt Nam, tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật chất trái pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt động đủng đắn của các cơ quan, tổ chức [45, 1458].
Phải đến năm 1998, khi mà Pháp lệnh phòng, chống tham nhũng năm 1998 ra đời, khái niệm tham nhũng được quy định chính thức trong văn bản pháp luật. Tuy nhiên, với sự ra đời của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì khái niệm này đã có sự điều chỉnh so với Pháp lệnh phòng, chống tham nhũng năm 1998. Cho đến nay, pháp luật hiện hành quy định, Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi [4, Điều 3], So với Khoản 2 Điều 1 Luật Phòng chống tham nhũng 2005 thì khái niệm này không có sự thay đổi, bổ sung. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về định nghĩa tham nhũng, tuy nhiên, trên cơ sở quy định của pháp luật về tham nhũng, chúng ta có thể định nghĩa khái quát về tham nhũng như sau: Tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có chức vụ, quyền hạn, sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình làm trái pháp luật đế mưu cầu lợi ích riêng, với động cơ vụ lợi, xâm phạm hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan Nhà nước, tố chức, xã hội, 14 gây thiệt hại cho tài sản, lợi ích của Nhà nước, của xã hội và các lợi ích hợp pháp khác của công dân.
Từ khái niệm trên, có thể xác định dưới góc độ của pháp luật, tham nhũng có những dấu hiệu như sau: Thứ nhất, chủ thể cùa tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc công vụ được giao để vụ lợi. Theo đặc điểm này, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước cấp huyện, các cơ quan có trọng trách lớn, có ảnh hưởng sâu rộng trong mọi mặt của đời sống xã hội; hoặc những người được giao thực hiện một công vụ, nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn trong nhiệm vụ đó. Pháp luật của nước ta xác định chủ thế của tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước, tức là nhũng người được sử dụng quyền lực công; hành vi tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn bao gồm những việc làm và những việc không làm (làm ngơ, bỏ qua, cho qua, né tránh) vì mục đích vụ lợi nhằm nhận được các lợi ích vật chất (tiền, quà biếu.) và các lợi ích tinh thần không bàng công sức của mình. Trong phạm vi nghiên cứu, Luận văn chỉ tiếp cận tham nhũng trong tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện (cụ thể là huyện Quốc Oai, Hà Nội).
Tham nhũng trong tổ chức và hoạt động của UNBD cấp huyện được hiểu là hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng do người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước cấp tại cấp huyện lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện gây hậu quả xấu cho xã hội, xâm phạm đến tài sản, lợi ích, hoạt động đúng đắn của các cơ quan hành chính nhà nước, người dân và xã hội. Thứ hai, chủ thề tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. Tham nhũng nảy sinh từ khi có Nhà nước, xuất hiện khi một số người sử dụng 15 quyên hạn được giao đê thỏa mãn lòng tham, tính vụ lợi của mình. Khái niệm tham nhũng xâm phạm đến các quan hệ xã hội được Nhà nước và pháp luật bảo vệ, thế hiện ở các dạng lợi ích vật chất hoặc phi vật chất mà chủ thể tham nhũng hướng tới.
Thứ ba, người thực hiện hành vi tham nhũng là lỗi co ý. Mà mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng thường sử dụng các thủ đoạn hết sức tinh vi để che dấu và gây khó khăn cho việc phát hiện hành vi tham nhũng, về động cơ tham nhũng thì phần lớn chủ thể có động cơ xuất phát từ ham muốn cá nhân nhằm thỏa mãn nhu càu về vật chất, tinh thần của họ. Mục đích mà chủ thể tham nhũng muốn đạt được chủ yếu là những giá trị vật chất hoặc tinh thần.
Thứ tư, mặt khách quan của tham nhũng là những biểu hiện ra bên ngoài của chủ thể tham nhũng, bao gồm hành vi tham nhũng, hậu quả tham nhũng và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả tham nhũng. Thực chất đó là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn địa vị công tác hoặc nhiệm vụ được giao đế không làm hoặc làm trái với công vụ mà mình phải thực hiện để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của tồ chức và của người dân, thỏa mãn lợi ích cá nhân của họ hay cho người khác hoặc một nhóm người mà minh quan tâm.