Chương 1: Cơ sở lý luận về “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” trong đấu tranh chống tham nhũng. Chương 2: Thực trạng về “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” trong đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị nhằm đảm bảo “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” trong đấu tranh chống tham nhũng. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ DÂN BIẾT, DÂN BÀN, DÂN KIỂM TRA TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG 1.
Các khái niệm chung Phương châm dân biết, dân bàn, dân kiểm tra được đề ra chính thức từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội của sự đổi mới. Đó là cơ sở quan trọng để chúng ta có thể thể chế hoá trong các quy định pháp luật, đảm bảo giá trị thực thi trong đời sống. Tìm hiểu các khái niệm này sẽ mang đến một cái nhìn toàn diện hơn khi đặt trong bình diện phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay. Trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm thế nào là “Dân” để có sự thống nhất trong cách hiểu các khái niệm tiếp theo.
Khái niệm “Dân” đã xuất hiện từ rất lâu, được dùng một cách thông thường và phổ biến trong xã hội, trong sách vở cả phương Đông và phương Tây. Tuy nhiên, vẫn chưa có một cách hiểu thống nhất, một khái niệm chung cơ bản mà thường được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau: Thứ nhất: “Dân” dùng để chỉ những người sống trong một khu vực địa lý hoặc hành chính, trong quan hệ với khu vực ấy. Chẳng hạn: dân Việt Nam, dân Hà Nội, dân thành phố Hồ Chí Minh. Thứ hai: “Dân” dùng để chỉ những người có cùng nghề nghiệp, hoàn cảnh.
làm thành tầng lớp riêng như dân thợ, dân buôn, dân chài. Thứ ba: “Dân” được dùng để chỉ những người bình thường, đông đảo nhất mà bộ phận lãnh đạo, bộ phận cầm quyền dùng để gọi những người bị lãnh đạo, bị cai trị. Trường hợp này, khái niệm về dân có tính lịch sử cụ thể và có ý nghĩa chính trị rõ rệt, phản ánh mối quan hệ giai cấp trong một xã hội có giai cấp. Vì thế, khái niệm “dân” có thể thay đổi về số lượng, chất lượng và 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đối tượng tuỳ theo tính chất của một xã hội trong từng thời kỳ nhất định.
Với ý nghĩa đó, có thể nói khái niệm dân đồng nhất với khái niệm nhân dân, dân chúng, quần chúng, quần chúng nhân dân. Khi dùng khái niệm nhân dân, người ta không phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo. Từ những giác độ nêu trên, chúng ta cần phải hiểu “Dân” ở đây dưới góc độ chung nhất, khái quát nhất chính là nhân nhân, là quần chúng, bao gồm mọi tầng lớp, giai cấp. “Dân biết”, “dân bàn”, “dân kiểm tra” là những khái niệm, phạm trù hoàn toàn khác nhau nhưng có mối quan hệ khăng khít, mật thiết, hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời.
Đó là một trong nhiều biểu hiện rõ nét nhất của việc phát huy dân chủ. “Dân biết” cần được hiểu ở những góc độ cụ thể như sau: - Từ phía nhân dân: Dân biết có nghĩa là người dân có quyền được bàn bạc, tìm hiểu mọi kế hoạch, mọi dự án, dự tính của Nhà nước liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ, cũng như liên quan đến tương lai, vận mệnh của dân tộc. - Từ phía nhà cầm quyền: Nhà nước có nghĩa vụ phải thông tin, lấy ý kiến giải thích cho nhân dân thông hiểu mọi quyết định mà Nhà nước sẽ ban hành hoặc sắp ban hành để nhân dân không ngỡ ngàng như đột nhiên bị chụp lên đầu những giải pháp do Nhà nước đơn phương ban hành một cách độc đoán. Trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, dân có biết thì mới có thể tham gia một cách có hiệu quả.
Nó cũng giống như khi ta đi trong bóng tối, nếu có được nguồn ánh sáng dẫn đường thì sẽ nhanh đi tới đích, không phải tự mò mẫm. Những thông tin về chống tham nhũng nói riêng và các lĩnh vực khác có liên quan đến chống tham nhũng dân phải được biết để từ đấy mới có thể giám sát, phát hiện ra tham nhũng. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Dân bàn”: là khâu mà nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách tham gia ý kiến khi tiếp nhận thông tin. Cụ thể là về đường lối, chủ trương, chính sách lớn.
Đảng và Nhà nước phải thu thập ý kiến đóng góp thông tin thảo luận rộng rãi trong nhân dân. Dân bàn cũng có nhiều loại: Dân bàn để hiểu sâu sắc, để nâng cao nhận thức; dân bàn để xây dựng; dân bàn để làm; nhiều lĩnh vực dân bàn như kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, về chủ trương, biện pháp; dân bàn ở nhiều nơi, trên nhiều phương tiện. Để nhân dân nâng cao và phát huy trí tuệ của mình thông qua bàn bạc, dù nhân dân bàn bạc ở loại nào thì cũng phải cung cấp thông tin và hướng dẫn nội dung, phương thức để nhân dân bàn. Từ cơ sở dân biết để đi đến dân bàn thì mới phát hiện ra được những thiếu sót, những điểm chưa hợp lý để từ đó bổ sung, sửa đổi hoàn thiện.
“Dân kiểm tra”: là việc quần chúng nhân dân và cán bộ kiểm soát để phát hiện sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ các cách sửa chữa sự sai lầm đó. “Dân kiểm tra” bằng cách trực tiếp kiểm tra, phát hiện hoặc thông qua các hình thức dân chủ đại diện, qua các tổ chức kiểm tra nhân dân. Người nào cũng có khả năng tham gia kiểm tra và phải có ý thức trách nhiệm kiểm tra. Khi phát hiện những sai phạm của người lãnh đạo, người quản lý, người dân phải kịp thời báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng nên thay từ “kiểm tra” bằng từ “giám sát” để cho phù hợp với Hiến pháp 1992. Nếu xét về nội hàm khái niệm thì “giám sát” có nghĩa rộng hơn, bao hàm cả kiểm tra. Theo tôi, chúng ta không nên sửa phương châm này vì nó có tính lịch sử, đã được ghi nhận ở nhiều văn kiện Đại hội Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp quy để cụ thể hoá phương châm này thì nên dùng từ “giám sát”.
Có thể nói “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” là một quy trình liên hoàn của việc phát huy dân chủ trong thực tế. Và trong đấu tranh chống tham 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhũng, mối liên hệ giữa ba yếu tố trên là không thể tách rời, bổ trợ cho nhau để đạt được hiện quả cao. Để làm làm rõ hơn nữa vai trò “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” trong đấu tranh chống tham nhũng, chúng ta cần phải tìm hiểu thêm khái niệm thế nào là tham nhũng? Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và tồn tại song song với sự phát triển của Nhà nước. Lịch sử Nhà nước từ khi xuất hiện đến nay cho thấy tham nhũng như một khuyết tật bẩm sinh của “quyền lực”, là loại tội phạm cực kỳ nguy hiểm bởi tính chất và hậu quả mà nó gây ra.
Xuất phát từ những điều kiện, đặc thù riêng của mỗi quốc gia mà quan niệm về tham nhũng có sự khác nhau. Từ điển Bách khoa của Bruekhaus (Đức) nêu khái niệm: “Tham nhũng là hiện tượng mất phẩm chất, hối lộ, đút lót thường xẩy ra đối với công chức có quyền hành” [34]. Ở Áo lại cho rằng: “Tham nhũng là hiện tượng lừa đảo, hối lộ, bóc lột” [34]. Từ điển Bách khoa Thuỵ Sỹ cho rằng: “Tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự vô tổ chức của tầng lớp có trách nhiệm trong bộ máy Nhà nước, đó là hành vi phạm pháp để phục vụ lợi ích cá nhân”[34].
Theo quan điểm cá nhân, ông RickStapenhurst (chuyên gia quản lý khu vực công cộng) và ông ShahrzadSedigh (nhà tư vấn của Viện Phát triển kinh tế ngân hàng thế giới) thì “Tham nhũng, theo nghĩa đơn giản nhất là sự lạm dụng quyền lực, đa phần là để đạt được lợi ích của một nhóm mà người ta phải trung thành với nó. Tham nhũng có thể do lòng tham thúc đẩy, do ước muốn duy trì hoặc tăng thêm quyền lực, hay một cách khá vô lý là do niềm tin vào một cơ may mà người ta cho rằng còn lớn lao hơn. Trong khi thuật ngữ “tham nhũng” thường được áp dụng phố biến nhất cho sự lạm dụng quyền lực công của các chính khách hay công chức nhà nước, thì nó lại mô tả một hình mẫu ứng xử có thể thấy hầu như mọi lĩnh vực của cuộc sống” [34]. Trong khi 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó, ông PetterLangseth (chuyên gia cao cấp Viện Phát triển kinh tế, Ngân hàng thế giới) và ông Jeremy Pope (Giám đốc nghiên cứu Transparency Internal, Beclin) lại quan niệm: “Tham nhũng có thể được định nghĩa như là sự lạm dụng quyền lực công để mưu cầu lợi ích cá nhân hay một lợi ích của một nhóm người mà ta phải trung thành với nó”.
Do có sự khác nhau về truyền thống lịch sử, đặc điểm văn hoá, điều kiện kinh tế - xã hội, tình trạng tham nhũng. giữa các nước dẫn tới những quan điểm khác nhau về tham nhũng là tất yếu. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy điểm chung, phổ biến nhất trong các khái niệm về tham nhũng đó là: tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó có thể tham ô, nhận hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi. Luật phòng, chống tham nhũng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đưa ra khái niệm tham nhũng như sau:“Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (Khoản 2, Điều 1).
Như vậy, dù các quan điểm có khác nhau nhưng tựu chung lại tham nhũng gồm ba yếu tố chính: - Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn; - Hành vi tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hoặc không thực hiện việc gì đó thuộc trách nhiệm của mình; - Mục đích là thu lợi cho bản thân hoặc cho người có liên quan đến bản thân mình. Hành vi tham nhũng thường được biểu hiện bằng việc các công chức nhà nước cố ý làm trái quy định của pháp luật trong chấp hành chức trách, công vụ được giao. Tham nhũng được pháp luật các nước quy định là loại tội 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình sự với nhiều tội danh khác nhau.