Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI 1. Khái niệm buôn bán ngƣời; mua bán ngƣời; phòng, chống mua bán ngƣời; pháp luật về phòng, chống mua bán ngƣời 1. Khái niệm buôn bán người Buôn bán ngƣời (BBN) là một hiện tƣợng xã hội đã xuất hiện từ khi xã hội loài ngƣời bƣớc vào giai đoạn phát triển hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ.
Ban đầu BBN là việc mua bán nô lệ trong các cuộc chiến tranh, sau đó là các cuộc trao đổi phụ nữ vì lợi ích chính trị, kinh tế giữa các quốc gia thời phong kiến. Cho đến nay tệ nạn BBN mà chủ yếu là mua bán phụ nữ, trẻ em vẫn tồn tại và có chiều hƣớng gia tăng trên phạm vi toàn thế giới, với các mục đích phi nhân đạo nhƣ: bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, kết hôn trái ý muốn, lấy đi các bộ phận của cơ thể. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), ở thời điểm năm 2009, trên thế giới có khoảng hơn 2,4 triệu ngƣời bị buôn bán [2, tr. Ở Việt Nam, tình trạng BBN trong những năm gần đây không ngừng gia tăng và mang tính xuyên quốc gia, trong đó qua Trung Quốc chiếm 65%, Campuchia chiếm 11%, Lào chiếm 6,5%, số còn lại mua bán trong nƣớc và một một số quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhƣ: Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po, Đài Loan, Hồng Công, Ma Cao (Trung Quốc).
Từ năm 2005 đến cuối năm 2012, Việt Nam phát hiện đƣợc hơn 3.000 đối tƣợng, lừa bán trên 6.500 nạn nhân, trong đó riêng năm 2012 có gần 500 vụ, với hơn 800 đối tƣợng, lừa bán trên 850 nạn nhân. Các cơ quan có thẩm quyền trong nƣớc và một số tổ chức quốc tế hoạt động PCMBN đều nhận định rằng, thủ đoạn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com MBN ở Việt Nam ngày càng phức tạp, tinh vi, trong đó có nhiều hình thức mới nảy sinh nhƣ mua bán trẻ sơ sinh, mua bán bào thai, nội tạng, đẻ thuê, tuyển dụng đƣa ngƣời lao động ra nƣớc ngoài trái phép sau đó thu giữ giấy tờ, hộ chiếu và bắt lao động cƣỡng bức, lạm dụng tình dục [46, tr. Do đó, việc đấu tranh với hình thức tội phạm này đang là vấn đề cấp bách không chỉ đặt ra đối với mỗi quốc gia mà còn là một vấn đề mang tính toàn cầu. Theo Điều 3 Nghị định thƣ về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi BBN đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em bổ sung Công ƣớc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc, đƣợc Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000, có hiệu lực ngày 25/12/2003 (gọi tắt là Nghị định thƣ Palermo).
Buôn bán ngƣời có nghĩa là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận ngƣời nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa dùng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế hay lợi nhuận để đạt đƣợc đƣợc sự đồng ý của một ngƣời có quyền kiểm soát đối với những ngƣời khác. Hành vi bóc lột sẽ bao gồm ít nhất là bóc lột vì mục đích mại dâm hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cƣỡng bức, nô lệ hay các hình thức tƣơng tự nô lệ, khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể [56. Các dấu hiệu cơ bản của tội BBN đƣợc thể hiện nhƣ sau: Về mặt khách quan: BBN là việc thực hiện một trong các hành vi: tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận ngƣời (đối tƣợng bị buôn bán) và bóc lột nạn nhân. Ngƣời phạm tội có thể sử dụng các thủ đoạn nhƣ lừa dối, hứa hẹn, man trá, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực, ép buộc, bắt cóc, lừa gạt… nạn nhân.
Về mặt chủ quan: Ngƣời thực hiện hành vi BBN phải có mục đích tƣ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lợi, bóc lột; có thể là bóc lột về tình dục, lao động cƣỡng bức, làm nô lệ hoặc lấy các bộ phận của cơ thể… Suy cho cùng thì mục đích của những ngƣời thực hiện hành vi BBN là vì lợi nhuận, vì thế đó là lỗi cố ý trực tiếp. Trong khái niệm nêu trên, Nghị định thƣ Palermo không đề cập đến khách thể và chủ thể của tội phạm BBN mà chỉ mô tả về mặt chủ quan và khách quan của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, theo lý luận chung về tội phạm thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận 4 yếu tố cấu thành tội phạm là khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Đối với ngƣời bị hại (nạn nhân) trong các vụ buôn bán không phân biệt giới tính, còn trẻ em có nghĩa là bất kỳ ngƣời nào dƣới 18 tuổi.
Nghị định thƣ Palermo đã đƣợc Liên hợp quốc thông qua trong bối cảnh vấn đề BBN, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em đang gia tăng ở nhiều nơi trên toàn thế giới. Nó tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc xác định thế nào là BBN, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, trợ giúp nạn nhân của tệ BBN và phòng ngừa tội phạm BBN. Văn kiện này này đã đƣợc hầu hết quốc gia trên thế giới và chấp nhận làm khuôn khổ pháp lý quốc tế cho việc đấu tranh phòng, chống tệ nạn BBN hiện nay. Khái niệm và đặc điểm của hành vi mua bán người ở Việt Nam - Khái niệm mua bán người: Trong pháp luật quốc tế hiện nay, các văn bản thƣờng sử dụng khái niệm buôn bán người; buôn bán phụ nữ và trẻ em.
Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật hiện hành không sử dụng khái niệm buôn bán người mà sử dụng cụm từ "mua bán phụ nữ và trẻ em" hoặc "mua bán người", cụ thể là trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại các Điều 119 và 120, Luật PCMBN năm 2011. Tuy nhiên, trong cả hai điều luật nêu trên của BLHS và Luật PCMBN đều chƣa đƣa ra định nghĩa về MBN. Vì vậy, khái niệm “Mua bán ngƣời” 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện đƣợc hiểu tại Thông tƣ liên 01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA- BQP-BTP ngày 23/7/2013 hƣớng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời có hành vi MBN; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Điều 1 Thông tƣ quy định: Mua bán ngƣời là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổi ngƣời (từ đủ 16 tuổi trở lên) nhƣ một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi: 1.
Bán ngƣời cho ngƣời khác, không phụ thuộc vào mục đích của ngƣời mua; 2. Mua ngƣời để bán lại ngƣời cho ngƣời khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của ngƣời mua sau này nhƣ thế nào; 3. Dùng ngƣời nhƣ là tài sản để trao đổi, thanh toán; 4. Mua ngƣời để bóc lột, cƣỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác; 5.
Ngƣời tổ chức, ngƣời xúi giục, ngƣời giúp sức cho ngƣời thực hiện một trong các hành vi mua bán ngƣời hƣớng dẫn tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này đều bị truy cứu trách nhiệm về tội mua bán ngƣời [20, tr. Khoản 1 Điều 4 Thông tƣ cũng xác định: 1.Mua bán trẻ em là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi trẻ em (ngƣời dƣới 16 tuổi) nhƣ một loại hàng hóa cụ thể là một trong các hành vi: a) Bán trẻ em cho ngƣời khác, không phụ thuộc vào mục đích của ngƣời mua; b) Mua trẻ em để bán lại cho ngƣời khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của ngƣời mua sau này nhƣ thế nào; c) Dùng trẻ em làm phƣơng tiện để trao đổi, thanh toán; d) Mua trẻ em để bóc lột, cƣỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác [20, tr. Đối với Luật PCMBN năm 2011, mặc dù không đƣa ra định nghĩa về “mua bán ngƣời‟ nhƣng tại Điều 3 đã quy định 05 hành vi cụ thể có thể coi là MBN, bao gồm: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (1) Mua bán ngƣời theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 Bộ luật hình sự; (2) Chuyển giao, tiếp nhận ngƣời để bóc lột tình dục, cƣỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; (3) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp ngƣời để bóc lột tình dục, cƣỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác hoặc để thực hiện hành vi (1) hoặc (2) kể trên; (4) Cƣỡng bức ngƣời khác thực hiện hành vi (1) hoặc (2) hoặc (3) kể trên; (5) Môi giới để ngƣời khác thực hiện hành vi (1) hoặc (2) hoặc (3) kể trên [65, tr. Về mua bán trẻ em, Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS 1985 quy định, "mua bán trẻ em" đƣợc hiểu là "Việc mua hoặc bán trẻ em vì mục đích tư lợi, dù là mua của kẻ bắt trộm hay mua của chính người có con đem bán.
Hành vi mua trẻ em khi biết rõ là đứa trẻ bị bắt trộm cũng bị xử lý về tội mua bán trẻ em…" [48, tr.1]; Bên cạnh việc sử dụng thuật ngữ "mua bán phụ nữ, trẻ em", thì thuật ngữ "buôn bán phụ nữ, trẻ em", cũng đƣợc một số văn bản quy phạm pháp luật sử dụng. Ví dụ, tại khoản 2 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để buôn bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác" [61, tr. 54] hoặc theo Khoản 2 Điều 24 Pháp lệnh phòng chống mại dâm thì: "Người nào môi giới mại dâm, chứa mại dâm, cưỡng bức mại dâm, tổ chức mại dâm, mua bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự" [77, tr. Nhƣ vậy, tổng hợp các định nghĩa, khái niệm nêu trên trong pháp luật Việt Nam, có thể hiểu “mua bán ngƣời” là hành vi của một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời vì tƣ lợi, đã lừa dối, ép buộc, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực, nhằm tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp ngƣời để bóc lột tình dục, cƣỡng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.