Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm gia đình và thành viên gia đình Gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Những chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới.
Trong thực tiễn, khái niệm về gia đình vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và rõ ràng. Tuỳ thuộc vào quan điểm và các phương pháp tiếp cận, người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về Gia đình. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đồng thuận một cách hiểu chung nhất: Gia đình là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên, nhất là trẻ em. Ở Việt Nam, quan niệm về gia đình được nhiều nhà xã hội học thừa nhận là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng.
Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm). Giữa họ là những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình. Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi nhận tại điều 8 trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2000: "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định của Luật này”. Xuất phát từ định nghĩa trên thì gia đình được hình thành dựa trên những quan hệ sau: - Quan hệ hôn nhân: nam nữ kết hôn hợp pháp xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật.
- Quan hệ huyết thống: dựa trên sự kiện sinh đẻ làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ - các con bao gồm con trong giá thú và ngoài giá thú. - Quan hệ nuôi dưỡng: từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia thành rất nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ,… Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về gia đình dẫn tới những quan niệm khác nhau về thành viên gia đình. Ở góc độ tổng quát nhất, phạm vi các đối tượng được coi là thành viên gia đình cũng chính là phạm vi của quan hệ gia đình. Đây là khía cạnh rất quan trọng khi xác định phạm vi điều chỉnh của luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở các quốc gia.
Về vấn đề này, Luật mẫu về bạo lực gia đình do Ủy ban Quyền con người Liên hợp quốc thông qua năm 1996 khuyến khích các quốc gia xác định phạm vi các quan hệ điều chỉnh trong Luật về phòng, chống bạo lực gia đình càng rộng càng tốt, trong đó ít nhất phải bao gồm quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa người tình với người tình sống chung như vợ chồng, quan hệ với người tình cũ, vợ hay chồng cũ, quan hệ với những người thân khác là nữ trong gia đình (mẹ, con gái, chị em gái,. Liên quan đến vấn đề trên, Luật về phòng, chống bạo lực gia đình của các nước và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Niu Di lân, Nam Phi, Cam pu chia, Đài Loan, Đông Ti-mo và Cô-xô-vô, Phi-líp-pin, CHDCND 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.quy định phạm vi quan hệ gia đình được điều chỉnh khá rộng, trong đó bao gồm các đối tượng như vợ chồng (cả hợp pháp hoặc thực tế), tình nhân, vợ chồng cũ, con cái, các thành viên gia đình và cả những người thân thích đang sống chung một nhà. Ở Việt Nam, Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 chỉ rõ: quan hệ gia đình bao gồm quan hệ giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau. Còn Khoản 10 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 lại định nghĩa gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau,.
Như vậy, thành viên gia đình theo tôi được hiểu theo hai nghĩa: - Nghĩa hẹp: xuất phát từ khái niệm gia đình thì thành viên gia đình bao gồm những người trong một gia đình được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng. - Nghĩa rộng: thành viên gia đình được hiểu là những người trong cùng một gia đình, có đời sống chung về mặt vật chất và tinh thần như cha, mẹ và con cái, vợ và chồng, trong đó bao gồm các đối tượng như vợ chồng (cả hợp pháp hoặc thực tế)… Những người này có một khoảng thời gian sống chung với nhau ổn định, có sự quan tâm chia sẻ với nhau những công việc của gia đình và xã hội, từ đó hình thành nên mối liên hệ đặc biệt về tâm lý, tình cảm, tạo nên cách ứng xử giữa họ với nhau. Khái niệm bạo lực và bạo lực gia đình Bạo lực là một hiện tượng xã hội và được các nhà nghiên cứu xã hội học xác định là một vấn đề được hình thành như là một lẽ tự nhiên của con người. Đối với người tiền sử, đã có những bằng chứng khảo cổ chứng minh cả bạo lực lẫn hòa bình là những đặc tính sơ khai của con người.
Đã có nhiều định nghĩa về bạo lực. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt năm 1998: “Bạo lực là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sức mạnh dùng để trấn áp chống lại lực lượng đối lập hay lật đổ chính quyền” [11], hoặc theo Từ điển Tiếng Việt năm 2003, thì "Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp hoặc lật đổ" [54]. Nhà sinh vật học thần kinh Jan Volavka nhấn mạnh rằng: “hành vi bạo lực được định nghĩa như hành vi gây hấn thể chất một cách cố ý chống lại người khác” [53]. Tuy nhiên, không phải bất cứ hình thức bạo lực nào cũng hướng vào việc trấn áp, chống lại hoặc lật đổ các phe phái chính trị và chính quyền mà trên thực tế bạo lực giải quyết một sự bất hòa trong quan hệ xã hội; một sự tranh chấp quyền lợi giữa hai người; giành lấy quyền và lợi ích cho mình.
Trong những trường hợp nhất định, bạo lực có thể có vai trò tích cực trong xã hội, song nó có thể trở thành tiêu cực, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội nếu bạo lực được sử dụng sai mục đích. Như vậy, bạo lực chính là một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung và có liên quan tới mối quan hệ người gây hấn - nạn nhân mà chúng ta nhận thức được. Trong luật học, “bạo lực” được định nghĩa gắn liền với thuật ngữ “gia đình”. Hiện, đã có trên 89 nước trên thế giới có các quy định pháp luật riêng về chống bạo lực gia đình, trong đó có 60 nước nước có luật riêng về phòng chống bạo lực gia đình; 7 nước có luật riêng về bạo lực chống lại phụ nữ,… và đã có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về “bạo lực gia đình”.
Theo Bộ luật của Bang Georgia (Mỹ) số 19-13-1 định nghĩa bạo lực trong gia đình là một số hành vi tội phạm thực hiện giữa những người có quan hệ với nhau. Các hình thức tội phạm bao gồm hành hung, doạ nạt, rình rập, phá hoại tài sản mang tính tội phạm, câu thúc bất hợp pháp, xâm nhập mang tính tội phạm và bất cứ tội hình sự nào khác. Các hành vi diễn ra giữa những con người có liên hệ với nhau như vợ chồng trong hiện tại hay quá khứ, là cha mẹ chung của cùng một đứa trẻ, cha mẹ và con cái, cha mẹ kế và con kế hoặc ngay cả những người ngoài hiện đang hoặc đã sống chung trong một gia đình. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Định nghĩa bạo lực gia đình của Liên hợp quốc thông qua năm 1993 được các tổ chức cũng như nhà khoa học trên thế giới chấp nhận rộng rãi thì BLGĐ là bất kỳ hành động bạo lực nào dẫn đến hoặc có thể dẫn đến những tổn thất về thân thể, tâm lý hay tình dục hay những đau khổ của người trong gia đình, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, việc cưỡng bức hay tước đoạt sự tự do.
Theo Luật mẫu về bạo lực gia đình của Ủy ban nhân quyền của Liên Hợp quốc ngày 02/02/1996: “BLGĐ là tất cả các hành vi lạm dụng thể chất, tinh thần, tình dục dựa trên cơ sở giới đối với một thành viên, một phụ nữ trong gia đình, từ hành vi đánh đập đơn giản đến gây thương tích nặng, bắt cóc, đe doạ, doạ dẫm, cưỡng bức, quấy rối, lăng nhục bằng lời nói, dùng vũ lực để vào nhà trái pháp luật, phóng hoả, huỷ hoại tài sản, bạo lực tình dục, hiếp dâm trong hôn nhân, bạo lực liên quan đến thách cưới hoặc của hồi môn,cắt bộ phận sinh dục nữ, bạo lực liên quan đến bóc lột mại dâm, bạo lực đối với người giúp việc trong gia đình…”[50]. Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực trong gia đình bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX. Sau Hội nghị quốc tế về bạo lực trên cơ sở giới tổ chức ở Bali năm 1993 và Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ 4 tổ chức tại Bắc Kinh năm 1995,“bạo lực trong gia đình” đã được khẳng định là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu xã hội phục vụ cho công cuộc phát triển. Trên cơ sở định nghĩa của Liên hợp quốc về bạo lực đối với phụ nữ, Luật phòng chống bạo lực gia đình được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 21/11/2007 đinh ̣ nghiã : “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên trong gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại vể thể chất, tinh thần, kinh tế, đối với thành viên khác trong gia đình” Như vậy, bạo lực gia đình được giới hạn bởi các chủ thể là thành viên của gia đình – những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.