phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chƣơng, gồm: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về sự phối hợp giữa các cơ quan trong THADS. - Chƣơng 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về sự phối hợp giữa các cơ quan trong THADS. - Chƣơng 3: Thực tiễn thực hiện và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong THADS. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm của thi hành án dân sự Thuật ngữ “Thi hành án dân sự” từ lâu đã trở thành đề tài tranh luận sôi nổi trên diễn đàn khoa học pháp lý. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Thi hành” đƣợc hiểu là: "Làm cho thành có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định" [31, tr. 903]; “án” ở đây là bản án, quyết định, hay văn bản pháp lý thể hiện phán quyết của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
Phán quyết của những cơ quan này có thể có hoặc không mang tính quyền lực Nhà nƣớc nhƣng đều yêu cầu các chủ thể của pháp luật phải tuân thủ đầy đủ. Tuy nhiên, không phải lúc nào phán quyết của cơ quan giải quyết vụ việc cũng đƣợc bên có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành bởi nó liên quan đến tính tự giác, thái độ, quyền lợi và khả năng thi hành của những đối tƣợng này. Nếu không đƣợc thực thi thì tính áp đặt trong những phán quyết này mới chỉ thể hiện trên văn bản giấy tờ, hay nói cách khác là những điều đã đƣợc chính thức quyết định chƣa đƣợc làm cho có hiệu lực. Chính vì vậy “Thi hành án” có thể hiểu là việc thực hiện để đảm bảo hiệu lực thực tế của Bản án, Quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì việc THA bao gồm THADS và THAHS, cả hai hoạt động THA này đều là thực hiện các bản án, quyết định trên thực tế nhƣng mỗi hoạt động lại có nét đặc trƣng riêng. THAHS thể hiện quan hệ bất đối xứng giữa một bên là ngƣời phải THA và một bên là quyền lực Nhà nƣớc, đƣợc đặc trƣng bởi hệ thống trại giam, trại tạm giam, thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nƣớc lên cá nhân ngƣời phạm tội, ngƣời phải THA phải thực hiện đúng các chế tài đã tuyên trong bản án hình sự, không có quyền thỏa hiệp khi thi hành. Hoạt động THAHS tác động đến quyền 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân thân của ngƣời phải THA, việc thi hành hình phạt tử hình, hình phạt tù, cấm đi khỏi nơi cƣ trú … làm hạn chế quyền đƣợc đảm bảo an toàn về tính mạng, quyền tự do đi lại, quyền tự do cƣ trú … của cá nhân ngƣời phạm tội. Mục đích của hoạt động THAHS đó là giáo dục ngƣời phạm tội, thể hiện sự răn đe đối với toàn xã hội.
Đối tƣợng của THAHS là các bản án, quyết định của Tòa án đƣợc giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự. Khác với THAHS, THADS là việc thực thi nghĩa vụ dân sự của ngƣời phải THA đối với ngƣời đƣợc THA theo nội dung bản án, quyết định dân sự. Bên đƣợc THA có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức hay là Nhà nƣớc. Nội dung đƣa ra thi hành tác động đến tài sản, quyền tài sản của ngƣời phải THA nhƣ việc nộp tiền án phí, thanh toán trả nợ, buộc tháo dỡ công trình, hoàn trả tài sản.
Hoạt động THADS nhằm khôi phục lại hiện trạng ban đầu, khắc phục hậu quả, bồi thƣờng thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, các bên đƣơng sự có quyền thỏa thuận THA. Ở Việt Nam hiện nay, dƣới góc độ khoa học pháp lý vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm THADS. Ý kiến thứ nhất cho rằng THADS là một hoạt động của tố tụng dân sự [57, tr. Ý kiến thứ hai cho rằng THADS là một dạng của hoạt động hành chính.
Ý kiến thứ ba cho rằng THA là một dạng hoạt động hành chính - tƣ pháp vì THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành quyết định của Tòa án - cơ quan tƣ pháp [58, tr. Đối với quan điểm thứ nhất cho rằng THADS là một hoạt động của tố tụng dân sự, quan điểm này chỉ ra rằng THADS là giai đoạn cuối của quá trình tố tụng, kế tiếp sau quá trình xét xử của Tòa án và thuần túy mang tính tƣ pháp. Quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định gắn chặt với vai trò của Tòa án thể hiện ở việc Tòa án có trách nhiệm đảm bảo bản án, quyết định có tính khả thi khi thi hành, giải thích những điểm tuyên chƣa rõ, khắc phục những sai sót, xem xét lại bản án khi có kiến nghị của cơ quan THADS. Quan điểm thứ hai cho rằng THADS là một dạng hoạt động hành chính, theo quan điểm này quá trình tố tụng đã kết thúc từ khi Tòa án nhân danh Nhà nƣớc ra phán quyết cuối cùng giải quyết vụ việc, Tòa án đã xác định rõ quyền lợi và nghĩa 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụ của các bên còn THA là giai đoạn hoàn toàn khác.
Quan điểm này cho rằng THA không còn là giai đoạn tố tụng bởi THA có mục đích khác với mục đích của tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của vụ việc đã diễn ra trên thực tế, giải quyết vụ việc thông qua các quy định của pháp luật, còn THA là quá trình thực thi những điều đã đƣợc phân xử trong bản án, quyết định. Những học giả theo quan điểm này cho rằng THADS là một dạng của hoạt động hành chính bởi THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành mà điều hành và chấp hành là đặc trƣng của hoạt động hành chính. Mặt khác, THADS ở nƣớc ta lại không do Tòa án - một cơ quan tƣ pháp tổ chức thực hiện. Hạn chế lớn nhất của cả hai quan điểm trên là đều tuyệt đối hóa tính hành chính và tính tƣ pháp của hoạt động THADS.
Tác giả của luận văn đồng tình hơn cả với quan điểm thứ ba coi THADS là một dạng hoạt động hành chính - tƣ pháp. THADS trƣớc hết là một hoạt động tƣ pháp bởi thực tế là ở Việt Nam đã từng có giai đoạn cơ quan THADS đƣợc tổ chức nằm trong Tòa án và trên thế giới hiện nay tại một số quốc gia cơ quan THADS vẫn đƣợc tổ chức thuộc Tòa án với nhiệm vụ là thực thi, chấp hành phán quyết của Tòa án mà Tòa án là một cơ quan Tƣ pháp. THADS đồng thời cũng là một dạng hoạt động hành chính bởi việc THA đƣợc tổ chức, điều hành theo những trình tự, thủ tục mang tính hành chính đã đƣợc pháp luật quy định để nhằm mục đích cuối cùng đó là chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đảm bảo hiệu lực thực tế của những quy định này. Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến tranh luận và mỗi quan điểm đều thể hiện tính hợp lý riêng nhƣng cũng cần nhận thấy rằng dù THADS đƣợc hiểu dƣới góc độ nào thì bản chất của THADS cũng không hề thay đổi đó là việc thực thi theo nội dung phán quyết của bản án, quyết định dân sự.
Hoạt động THADS có những đặc điểm cơ bản sau: - Bản chất của hoạt động THADS là thi hành phán quyết được tuyên trong bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền giải quyết, không phải là việc giải quyết lại nội dung vụ việc. Về mặt nguyên tắc, trong quá trình giải quyết vụ việc tại Tòa án, cơ quan, tổ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức có thẩm quyền thì các cơ quan, tổ chức này căn cứ vào chứng cứ và các quy định của pháp luật để ra phán quyết xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Còn khi cơ quan THADS thực hiện nhiệm vụ không phải giải quyết lại nội dung vụ việc mà cơ quan THADS yêu cầu các đƣơng sự thực hiện nghiêm chỉnh các quyền và nghĩa vụ đƣợc ấn định trong bản án, quyết định dân sự đồng thời phổ biến cho đƣơng sự biết các quy định pháp luật có liên quan. Trong quá trình thi hành vụ việc, cơ quan THADS nếu phát hiện sai sót của cơ quan ra bản án, quyết định dân sự trong việc áp dụng pháp luật có thể kiến nghị những cơ quan này kịp thời sửa chữa, bổ sung từ đó có căn cứ cho việc giải quyết THA tiếp theo.
- Chủ thể tổ chức thực hiện hoạt động THADS là cơ quan, tổ chức THADS mà cụ thể là các Chấp hành viên hoặc các Thừa phát lại. Việc THADS ảnh hƣởng trực tiếp đến tài sản, quyền nhân thân của các đƣơng sự và những ngƣời có liên quan nên để đảm bảo việc THA đạt hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đƣơng sự và những ngƣời có liên quan thì việc THADS phải do cơ quan nhà nƣớc chuyên trách thực hiện - cơ quan THADS. Tuy nhiên, để việc THADS đƣợc nhanh chóng, đạt hiệu quả cao cũng nhƣ huy động các nguồn lực trong xã hội thì một số công việc THADS đƣợc chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức tƣ nhân thực hiện – đó chính là các Thừa phát lại. - Đối tượng của THADS là các bản án, quyết định dân sự của Tòa án, quyết định của Trọng tài thương mại và Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh, cụ thể: + Bản án, quyết định dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thƣơng mại, lao động; + Hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; + Phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án; + Bản án, quyết định dân sự của Toà án nƣớc ngoài, quyết định của Trọng tài nƣớc ngoài đã đƣợc Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; + Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải THA của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Quyết định của Trọng tài thƣơng mại; + Quyết định Tòa án giải quyết phá sản.