phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÊ CHUẨN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÊ CHUẨN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA 1. Khái niệm phê chuẩn Phê chuẩn là một từ gốc Hán Việt, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1998 thì: “Phê chuẩn” có nghĩa là xét duyệt, đồng ý cho thi hành [Tr. Theo Từ điển luật học Nhà xuất bản Từ điển bách khoa-Tƣ pháp 2006 thì phê chuẩn là: Xét duyệt để cho phép sử dụng hoặc thực hiện một văn bản, công việc, vấn đề hay lĩnh vực nào đó.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 2003, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa: Phê chuẩn là: Việc thực hiện quyền lực của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền (thường là cấp trên) chấp thuận một hay nhiều đề nghị, yêu cầu của cấp phụ thuộc (thường là cấp dưới) được ghi vào văn bản có ký tên hoặc ký tên và đóng dấu, cho phép cấp phụ thuộc được thực hiện yêu cầu, đề nghị đó. Phê chuẩn thường xuất hiện trong quá trình giải quyết những công việc chung của các cơ quan nhà nước, khi cấp phụ thuộc (tổ chức cá nhân) có một số yêu cầu về công việc cần thiết mà điều kiện tiên quyết để thực hiện yêu cầu đó là sự chấp thuận của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền, khi đó cấp phụ thuộc phải làm một văn bản như: tờ trình, đơn đề nghị, bản yêu cầu, dự thảo đề án, hiệp ước. gửi cho cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền. Trong văn bản cấp phụ thuộc nêu rõ yêu cầu, lý do, nội dung, mục đích và các điều kiện thực hiện.
Sau khi xem xét các văn bản đó, nếu thấy không trái với pháp luật và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền phê vào văn bản đó yêu cầu của mình, có ký tên hoặc ký tên, đóng dấu cho phép hoặc không cho phép cấp phụ thuộc được thực hiện. Có thủ tục phê chuẩn toàn bộ hoặc chỉ phê chuẩn một hay một số yêu cầu đề nghị nào đó trong văn bản yêu cầu của cấp phụ thuộc. Phê chuẩn có giá trị pháp lý nếu các yêu cầu, đề nghị nếu các yêu cầu, đề nghị của cấp phụ thuộc được cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền chấp thuận nằm trong các quy định của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật hiện hành [Tr 459-460; 40]. Nhìn chung, các khái niêm về thuật ngữ “phê chuẩn” trên đây đều đề cập đến mối quan hệ quyền lực nhà nƣớc giữa cơ quan có thẩm quyền giám sát, thẩm tra với cơ quan có thẩm quyền thi hành những hoạt động nhất định do pháp luật quy định phải chịu sự giám sát, thẩm tra thông qua thủ tục phê chuẩn.
Phê chuẩn trong tố tụng hình sự: Nhìn lại lịch sử nhà nƣớc và pháp luật thế giới chúng ta thấy rằng thời kỳ khi nhà nƣớc mới ra đời, bộ máy nhà nƣớc còn giản đơn và hệ thống pháp luật mới đƣợc hình thành thì các chức năng trong tố tụng hình sự chƣa đƣợc tách bạch rõ ràng, có thể do một cơ quan, thậm chí một quan chức thực hiện trong suốt quá trình tố tụng. Chẳng hạn trong nhà nƣớc Chủ nô hoặc Phong kiến thì việc điều tra, truy tố, xét xử và cả thi hành án thông thƣờng chỉ do một quan án đảm nhiệm. Càng về sau, cùng với sự phát triển, hoàn thiện của bộ máy nhà nƣớc và hệ thống pháp luật, việc phân định chức năng giữa các cơ quan nhà nƣớc ngày càng khoa học hơn. Luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng nhƣ luật tố tụng hình sự hiện đại của các nƣớc trên thế giới ngày càng có xu hƣớng chuyên môn hoá cao hơn, phân định chức năng rõ ràng và khoa học hơn.
Đó là việc giao cho mỗi cơ quan thực hiện một chức năng khác nhau; các cơ quan khác nhau thực hiện chức năng điều tra khám phá tội phạm, buộc tội và xét xử sẽ là tiền đề để hoạt động tố tụng hình sự khách quan hơn, đạt hiệu quả cao hơn. Chức năng của CQĐT là điều tra thu thập chứng cứ làm rõ có tội phạm hay không có tội phạm và ngƣời thực hiện hành vi phạm tội (khám phá tội phạm); chức năng của cơ quan thực hành quyền công tố là buộc tội và yêu cầu trừng phạt ngƣời phạm tội; chức năng của Toà án là xét xử. Trong luật tố tụng hình sự có chủ thể tiến hành tố tụng đƣợc độc lập thực hiện các hoạt động tố tụng, nhƣng có những chủ thể khi thực hiện một số hoạt động lại cần phải đƣợc sự phê chuẩn của chủ thể khác. Điều này xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể trong tố tụng là khác nhau.
Luật tố tụng hình sự hiện đại có các chủ thể là các cơ quan đƣợc tiến hành tố tụng gồm có CQĐT, cơ quan công tố/ VKS và cơ quan xét xử /Toà án thực hiện các chức năng tƣơng ứng là điều tra, truy tố và xét xử. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, khái niệm cơ quan điều tra là một khái niệm tƣơng đối rộng. Theo quy định tại Điều 110 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BLTTHS và điều 1 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (từ đây đƣợc viết tắt là PLTCĐTHS), Cơ quan điều tra gồm có: - Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân: + Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện); + Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh). - Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân: + Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tƣơng đƣơng; Cơ quan điều tra hình sự khu vực; + Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tƣơng đƣơng.
- Cơ quan điều tra trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao: + Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; + Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ƣơng. [Điều 110; 4], [Điều 1; 22] Ngoài các cơ quan điều tra (chuyên trách) này, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành còn có quy định trong một số trƣờng hợp, một số cơ quan khác đƣợc giao tiến hành một số hoạt động điều tra là Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lƣợng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này trong tố tụng hình sự đã đƣợc quy định rõ tại các điều 19-25 PLTCĐTHS. Về bản chất, các hoạt động này chính là các hoạt động trong giai đoạn điều tra.
Song do yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để đảm bảo hoạt động điều tra truy tố xét xử đƣợc tiến hành nhanh chóng, kịp thời nên các cơ quan này mới đƣợc giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong các vụ án đơn giản, tội phạm ít nghiêm trọng, hoặc các hoạt động điều tra ban đầu trong các vụ án nghiêm trọng trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến chức trách, nhiệm vụ của các cơ quan này. Nếu nhƣ trong Cơ quan điều tra có Thủ trƣởng, Phó Thủ trƣởng Cơ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan điều tra và Điều tra viên (ĐTV) đƣợc coi là các chủ thể là ngƣời tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự thì trong các cơ quan đƣợc giao tiến hành một số hoạt động điều tra, hoạt động điều tra này chủ yếu do Thủ trƣởng, Phó thủ trƣởng các cơ quan này tiến hành [điều 19-25; 22]. Bên cạnh đó, ngoài các chủ thể đã đƣợc đề cập ở trên, để đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, trong trƣờng hợp khẩn cấp, một số chủ thể cũng đƣợc quyền áp dụng một số biện pháp ngăn chặn nhằm ngăn cản không cho kẻ phạm tội bỏ trốn hoặc tẩu thoát. Đó là “ngƣời chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
Tuy vậy, thẩm quyền của các chủ thể này chủ yếu cũng chỉ dừng lại trong phạm vi áp dụng một số biện pháp ngăn chặn có hiệu lực trong thời gian ngắn và các hoạt động đó cũng chỉ xảy ra trong giai đoạn điều tra. Và một số các hoạt động đƣợc thực hiện bởi các chủ thể này cũng đƣợc coi là đối tƣợng phê chuẩn của Viện Kiểm sát nhƣ lệnh bắt ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp, tạm giữ hình sự. Tuy nhiên, các chủ thể này chỉ đƣợc tiến hành một số rất ít các hoạt động và chủ yếu chỉ trong tình huống khẩn cấp. Ngay khi trở về lãnh thổ Việt Nam, hoạt động điều tra cũng nhƣ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong các vụ án hình sự này phải đƣợc chuyển giao ngay cho Cơ quan điều tra (chuyên trách) có thẩm quyền điều tra vụ án đó theo quy định của pháp luật (nội dung này sẽ đƣợc làm rõ thêm ở phần 2.2 Chƣơng 2 Luận văn này).
Do vậy, về bản chất, việc áp dụng các lệnh, quyết định này của ngƣời chỉ huy tàu bay, tàu biển khi các phƣơng tiện đã rời khỏi ga không phải là các hoạt động thuộc thẩm quyền của các chủ thể này mà chỉ là các hoạt động nhân danh Cơ quan điều tra nhằm đảm bảo việc bắt, giữ nghi phạm để xử lý theo pháp luật và tránh trƣờng hợp những ngƣời đó lẩn trốn hoặc tiếp tục phạm tội trên các phƣơng tiện này.