Chương 1: Khái lược về phê bình sinh thái và văn xuôi Trần Bảo Định. Ở chương này, chúng tôi đi vào giới thiệu những nét chính về lịch sử hình thành, quá trình phát triển của phê bình sinh thái, khái niệm, đặc trưng, các trường phái chính cũng như những hạn chế của phê bình sinh thái. Đồng thời, chúng tôi cũng giới thiệu khái quát về nhà văn Trần Bảo Định để thấy được con đường đến với văn chương cũng như quan niệm văn chương và đặc sắc nội dung, nghệ thuật trong tác phẩm của ông. Chương 2: Sinh thái tự nhiên trong văn xuôi Trần Bảo Định.
Ở chương này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dấu ấn của sinh thái tự nhiên trong văn xuôi Trần Bảo Định qua việc khai thác bức tranh thiên nhiên, thế giới sinh vật vùng đất Nam Bộ trước bối cảnh khủng hoảng môi trường sinh thái. Chương 3: Sinh thái nhân văn trong văn xuôi Trần Bảo Định. Ở chương này, chúng tôi nghiên cứu dấu ấn của sinh thái nhân văn trong văn Trần Bảo Định qua các mối quan hệ giữa tự nhiên và con người, con người với con người và con người và các giá trị văn hóa. 15 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: KHÁI LƢỢC VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ NHÀ VĂN TRẦN BẢO ĐỊNH 1.
Khái lƣợc về phê bình sinh thái 1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của phê bình sinh thái Thế kỷ XVIII - XIX, thời đại của khoa học công nghệ bùng nổ, sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại (Modernism) đã làm cho con người có niềm tin rằng họ là chủng loài ưu việt vượt lên trên các loài, có khả năng thống trị được mọi thứ, kể cả tự nhiên. Với tư tưởng đó, con người đã có những hành động tàn phá thế giới tự nhiên không thương tiếc. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật là sự chết dần, chết mòn của thế giới tự nhiên.
Sự tàn phá tự nhiên một cách vô tội vạ đó đã tạo ra mối nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của chính con người. Điều đó đã được manh nha cảnh báo trong một số tác phẩm rời rạc, nhưng chưa được chú ý. Phải đến thế kỷ XX, vấn đề môi trường - sinh thái mới được lật lại và bắt đầu nghiên cứu nó một cách nghiêm túc và bài bản. Khi con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất họ mới nhận ra một điều, đó là cần phải duy trì sự hài hòa, ổn định, cân bằng hệ sinh thái để bảo vệ cuộc sống và phê bình sinh thái xuất hiện như một phản ứng trước sự tàn phá môi trường, quá trình đô thị hóa và sự mất cân bằng sinh thái đe dọa sự tồn vong của Trái Đất.
Thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocritisim) xuất hiện vào cuối thập niên 70 của thế kỉ trước, do Wiliam Rueckert sử dụng vào năm 1978 trong tiểu luận Văn học và sinh thái: một thử nghiệm trong phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocritism). Mục đích của Wiliam Rueckert là ứng dụng sinh thái học và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học. Về bản chất, phê bình sinh thái ra đời bắt nguồn từ phản ứng lại với tư tưởng truyền thống “nhân loại trung tâm luận” - coi con người là trung tâm, là “chúa tể muôn loài”, dẫn đến việc xem nhẹ, phủ nhận thiên nhiên, từ đó đề ra tư tưởng “sinh thái trung tâm”, hướng con người đến sự hài hòa giữa tự nhiên và con người. Trong bài viết Phê bình sinh thái trong bối cảnh khủng hoảng môi trường sinh thái toàn cầu in trong cuốn Phê bình sinh thái là gì?, Kate Rigby đã chỉ ra: “Phê bình sinh thái luôn tìm cách phục hồi lại ý nghĩa đích thực của thế giới vượt ra ngoài giới hạn của trang sách.
Họ quan tâm đến việc định giá lại thế giới tự nhiên” (Hoàng Tố Mai (chủ biên), 2017, tr. 16 Quá trình phát triển của phê bình sinh thái được nhiều nhà phê bình nghiên cứu và đã có nhiều cách phân chia quá trình phát triển của phê bình sinh thái. Lấy phê bình sinh thái ở Mỹ làm trung tâm, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành phân kỳ cho văn học sinh thái. Trong Rừng khô, suối cạn, biển độc…và văn chương, Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017) đã giới thiệu về cách phân kì phê bình sinh thái của hai nhà nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới là Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell.
Nhà phê bình Cheryll Glotfelty trong lời giới thiệu cho Tuyển tập phê bình sinh thái: các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học (Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology) đã chia phê bình sinh thái thành 3 giai đoạn phát triển: “Giai đoạn thứ nhất chủ yếu nghiên cứu văn học đã tái hiện tự nhiên và môi trường như thế nào. Giai đoạn này, phê bình sinh thái dựa vào lý thuyết sinh thái học bề sâu, thường đi theo cách tiếp cận sinh học trung tâm luận để xem xét tự nhiên được mô tả như thế nào trong văn học và cả sự thiếu vắng hình ảnh tự nhiên trong một số văn bản văn học nhất định. Giai đoạn thứ hai là sự thâm nhập vào các tác phẩm văn học viết về tự nhiên bị bỏ quên, tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, sự phát triển, thành tựu và phong cách, thể tài của các tác phẩm miêu tả tự nhiên trong văn học Mỹ. Giai đoạn thứ ba, phê bình sinh thái bắt đầu xây dựng thi pháp sinh thái và xây dựng lý luận phê bình sinh thái” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr.
Còn nhà nghiên cứu Lawrence Buell trong Tương lai của phê bình môi trường: khủng hoảng môi trường và sự và tưởng tượng của văn học (The Future of Environmental Criticcism: Environmental Crisis and Literrary Imagination, 2005) thì lại chia phê bình sinh thái làm hai giai đoạn hay còn gọi là “hai làn sóng sinh thái”. “Làn sóng thứ nhất xuất hiện khoảng giữa thập niên 90 của thế kỉ XX. Phê bình sinh thái thời kỳ này chủ yếu lấy triết học chủ nghĩa sinh thái trung tâm, nhất là sinh thái học bề sâu làm cơ sở; lấy việc nghiên cứu lối với tự nhiên làm trung tâm, mở rộng đến các tác phẩm văn học về tự nhiên trước đây không được coi trọng, khai quật vấn đề sinh thái đang ngủ yên trong những tác phẩm kinh điển, tìm hiểu hình tượng tự nhiên hoặc hình mẫu tự nhiên trong tác phẩm, nhấn mạnh sự hài hòa giữa vạn vật. 17 Làn sóng thứ hai bắt đầu vào khoảng cuối thập niên 90 cho đến đầu thế kỷ XXI.
Sứ mệnh “phê bình xanh” của thời kỳ này là công bằng môi trường, chủ yếu đứng trên lập trường công bằng môi trường để nghiên cứu mối quan hệ của văn học, văn hóa, văn nghệ với môi trường. Lập trường công bằng môi trường ở đây chủ yếu lấy điểm nhìn về chủng tộc và sự phân biệt giới là bước đột phá. Phạm vi nghiên cứu của thời kỳ này được mở rộng, không giới hạn về thể loại văn bản, khái niệm “môi trường” cũng có nhiều thay đổi và mở rộng. “Môi trường” còn chỉ nơi sinh sống, làm việc, thực hành tín ngưỡng, tinh thần của cá nhân.
Phê bình sinh thái từ “hoang dã” trở về môi trường nhân tạo, thậm chí về thành thị, trở về vùng giao cách giữa con người và tự nhiên. Làn sóng thứ ba ở vào khoảng cuối thập niên thứ nhất của thế kỷ XXI, nhấn mạnh bối cảnh toàn cầu hóa trong phê bình sinh thái. Đặc trưng chủ yếu của phê bình thời kỳ này là nghiên cứu chủng tộc trong phê bình môi trường, vượt qua biên giới chủng tộc và dân tộc, nhấn mạnh góc nhìn liên văn hóa, liên văn minh và sự kết hợp tôn chỉ chủ nghĩa hành động của phê bình văn học nữ quyền và phê bình công bằng môi trường” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr. Tuy nhiên cả ba làn sóng này không phải phát triển trước sau một cách có thứ lớp rõ ràng, mà có lúc giao thoa, trùng điệp, song hành cho nên khó có thể phân định rạch ròi.
Căn cứ vào tính chất và quan điểm phê bình, vào đặc điểm giao thoa của ba làn sóng, theo Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017), phê bình sinh thái thành 3 giai đoạn phát triển như sau: Giai đoạn 1 (1972 - 1990): Giai đoạn hình thành Các nhà phê bình sinh thái công bố các tác phẩm vào cuối những năm 1960 và 1970 nhưng phê bình sinh thái chưa trở thành một phong trào thống nhất. Giai đoạn này được xem là giai đoạn tiền đề với một vài thành tựu. Giai đoạn 2 (1991 - 2007): Giai đoạn phát triển Giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của những tổ chức và thuật ngữ “Phê bình sinh thái” được sử dụng rộng rãi. Nhận ra được sự không phổ quát ở giai đoạn trước, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu thành lập những hội thảo, tạp chí, tổ chức về phê bình sinh thái như: Hội thảo khoa học về “Phê bình sinh thái: Xanh hóa nghiên cứu văn học” do Hội ngôn ngữ học hiện đại Mỹ tổ chức năm 1991, Hội nghiên cứu văn học và môi trường (Association for the Study of Literature and Environment, viết tắt là ASLE) do 18 đại học Nevada thành lập năm 1992, Tạp chí Nghiên cứu liên ngành Văn học và Môi trường ra đời năm 1993 tạo điều kiện thuận lợi cho việc phê bình sinh thái phát triển mạnh.
Giai đoạn 3 (2008 – nay): Giai đoạn chuyển hƣớng Giai đoạn này đã đặt ra những vấn đề đạo đức sinh thái, trách nhiệm sinh thái - một biểu hiện của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Năm 2008, Scott Slovic xuất bản cuốn Đi xa để suy nghĩ: Nhập thế, xuất thế và trách nhiệm của phê bình sinh thái nhằm tiếp tục đề xướng ra ba vấn đề lí tưởng sinh thái, học thuật sinh thái và trách nhiệm sinh thái. Bên cạnh đó, phê bình sinh thái cũng đã mở rộng phạm vi nghiên cứu ở văn học người Mỹ gốc Phi với một số công trình của một số tác giả tiêu biểu. Có thể kể đến N.
Ruffin với Màu đen trên trái đất: Truyền thống văn học sinh thái của người Mỹ gốc Phi (2010), phê bình sinh thái với góc nhìn văn hóa và hậu thực dân: Những khám phá phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học và văn hóa của Patrick D. Elizabeth Deloughrey và B. Handley chủ biên cuốn Sinh thái hậu thực dân: Văn học về môi trường (2011). Phê bình sinh thái cũng phát triển mạnh ở các nước châu Á.
Công trình Sự mơ hồ sinh thái: khủng hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á (2012) của Karen Thronber đã tìm đến không gian Đông Á và đưa ra quan niệm mới về mơ hồ sinh thái.