Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển xuất khẩu thủy sản và bài học cho Hà Tĩnh Chương 2. Thực trạng phát triển xuất khẩu thủy sản của Hà Tĩnh trong thời gian qua Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản của Hà Tĩnh thời kỳ đến 2020, tầm nhìn 2030 8 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu Với mục tiêu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu thủy sản của Hà Tĩnh trong thời gian tới, một trong những nhiệm vụ của luận án là nghiên cứu tổng quan các công trình đã công bố liên quan đến; (1). Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận phát triển xuất khẩu thủy sản; (2). Các nghiên cứu liên quan đến thực trạng phát triển xuất khẩu thủy sản của Hà Tĩnh; (3). Các nghiên cứu liên quan đến giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản của một địa phương.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về phát triển xuất khẩu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Cơ sở lý luận về phát triển xuất khẩu hàng hóa nói chung hay thủy sản nói riêng, bắt nguồn từ các lý thuyết cổ điển về ngoại thương hay thương mại quốc tế (TMQT). Lý thuyết này tập trung vào việc lý giải: Tại sao các nước tham gia hoạt động ngoại thương? Điều gì là cơ sở cho thương mại? Thặng dư thu được từ thương mại như thế nào? Một quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế chỉ khi quốc gia đó thu được lợi ích từ thương mại, lợi ích thu được từ thương mại đã được hình thành như thế nào? Lợi ích đó lớn đến mức nào và chúng được phân bổ giữa các nước có tham gia thương mại như thế nào?. Việc lý giải các vấn đề trên đây liên quan đến tên tuổi gắn liền với các lý thuyết nổi tiếng như Adam Smith (1723-1790), David Ricardo (1772-1823) và một số nhà khoa học khác.
* Adam Smith (1776), trong tác phẩm nổi tiếng "Bàn về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia", xuất phát từ một chân lý đơn giản là trong thương mại quốc tế các bên tham gia đều phải có lợi, vì nếu chỉ có quốc gia này có lợi mà quốc gia gia khác lại bị thiệt thì quan hệ thương mại giữa họ sẽ không tồn tại. Từ đó ông đưa ra lý thuyết cho rằng thương mại giữa hai nước với nhau xuất phát từ lợi ích của cả hai bên, dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của từng nước. Do lợi thế tuyệt đối, nên mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất những hàng hóa mà mình có lợi thế sau đó trao đổi với nhau nên làm cho kinh tế thế giới tăng trưởng. Các quốc gia có 9 thể đạt được lợi ích lớn hơn thông qua sự phân công lao động quốc tế, tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá có lợi thế.
Như vậy, điều then chốt trong lập luận về lợi thế tuyệt đối là sự so sánh chi phí sản xuất của từng mặt hàng giữa các quốc gia. * David Ricardo (1817), trong “Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá”, đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage) thay cho lợi thế tuyệt đối. Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối trên đây của Adam Smith, thì một nước có lợi thế tuyệt đối về một loại hàng hoá sẽ thu được lợi ích từ ngoại thương và ngược lại. Nếu chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối thì không giải thích được vì sao một nước không có một lợi thế tuyệt đối nào vẫn có thể tham gia và thu lợi trong quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế.
Cơ sở của lý thyết D.Ricardo về sự khác biệt giữa các nước không chỉ đề cập đến các lợi thế về điều kiện tự nhiên và tay nghề mà còn về điều kiện sản xuất nói chung.Ricardo cho rằng, trên thực tế, phần lớn các quốc gia tiến hành buôn bán với nhau không chỉ ở những mặt hàng có lợi thế tuyệt đối mà còn đối với cả những mặt hàng dựa trên lợi thế tương đối. Nhờ chuyên môn hoá sản xuất một số loại sản phẩm nhất định của mình nên có thể có lợi thế hơn so với nước khác, thông qua thương mại quốc tế các nước đều có lợi. Như vậy, có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thương mại quốc tế.
Lợi thế tuyệt đối của A.Smith là một trường hợp đặc biệt của lợi thế so sánh. Lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ricardo là một sự kế thừa và phát triển lý thuyết Lợi thế tuyệt đối của A. Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn còn những hạn chế nhất định, đó là: Lợi thế do đâu mà có? Vì sao các nước khác nhau lại có phí cơ hội khác nhau?. * Hai nhà bác học Eli Hecksher (1879-1952) và B.Ohlin (1899-1979), trong tác phẩm: “Thương mại liên khu vực và quốc tế”, xuất bản năm 1933 đã phát triển lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ricardo, bằng việc đưa ra mô hình H-O (tên viết tắt của hai ông).
Theo Eli Hecksher và B.Ohlin thì, sỡ dĩ có TMQT là do, trong một 10 nền kinh tế mở cửa, mỗi nước đều hướng tới chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác, một số nước có lợi thế so sánh hơn là do đã sử dụng được những yếu tố sản xuất mà nước đó được ưu đãi hơn so với nước khác. Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu.) đã khiến cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) trong sản xuất những sản phẩm nhất định. Cơ sở lý luận của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo nhưng ở trình độ cao hơn vì là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất (các nguồn lực sản xuất).
Và do vậy, lý thuyết H-O còn được gọi là “lý thuyết lợi thế so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có”. * Michael Porter (1980), trong “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”, đã tiếp tục phát triển lý thuyết về thương mại quốc tế. Lý thuyết này đã đề cập đến 4 nhóm nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, đó là: (1). Các điều kiện về yếu tố sản xuất, gồm: Nguồn nhân lực, nguồn tài sản vật chất, nguồn kiến thức, nguồn vốn, cơ sở hạ tầng; (2).
Các điều kiện về cầu trong nước, gồm: Kết cấu cầu trong nước, quy mô cầu và hình mẫu tăng trưởng, quốc tế hóa nhu cầu nội địa; (3). Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; (4). Chiến lược, cấu trúc công ty và cạnh tranh nội địa, đó là cách thức, môi trường mà trong đó công ty được thành lập, tổ chức và quản lý cũng như trạng thái, bản chất của các đối thủ cạnh tranh trong nước. Ngoài 4 nhân tố như trên, M.
Porter đưa “Vai trò của Chính phủ” thành yếu tố thiết yếu để phân tích với lý do Chính phủ có thể tác động (và chịu tác động) bởi mỗi nhân tố trong bốn nhân tố quyết định theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Điều kiện yếu tố sản xuất chịu ảnh hưởng thông qua trợ cấp, các chính sách hướng tới thị trường vốn, chính sách đào tạo nguồn nhân lực và các chính sách tương tự. Đối với việc định hình điều kiện nhu cầu trong nước, Chính phủ có thể đưa ra các quy chuẩn và tiêu chuẩn hay các yêu cầu về kiểm soát hàng hóa trong nước cũng như hàng hóa xuất khẩu. Đồng thời, Chính phủ cũng là khách hàng chủ yếu tiêu dùng hàng hóa 11 trong nước hay nhập khẩu thông qua chi tiêu và đầu tư từ nguồn ngân sách của Chính phủ.
Các quyết định của Chính phủ về chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển đối với các ngành kinh tế cũng tác động trực tiếp đến phát triển các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu và các ngành hỗ trợ. Tuy nhiên, sự biến động của thị trường và những thay đổi về môi trường kinh doanh quốc tế cũng có thể làm thay đổi lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia. Chính sách của Chính phủ sẽ thất bại nếu chỉ duy trì nguồn lợi thế cạnh tranh quốc gia duy nhất, vấn đề khai thác và duy trì lợi thế cạnh tranh hiện hữu phải đi liền với tạo lập lợi thế cạnh tranh mới là nhiệm vụ quan trọng, quyết định sự thành công của quốc gia trong thương mại quốc tế. Cuối thế kỷ thứ XX, đầu thế kỷ thứ XXI đã xuất hiện nhiều lý thuyết thương mại hiện đại.
Không những đề xuất lý thuyết mới mà còn đẩy mạnh thực thi các lý thuyết đó, tạo ra một sự phát triển thương mại toàn cầu với nhiều đặc tính mới, như: các lý thuyết về thương mại tự do, thương mại công bằng, thương mại bền vững,… Các trào lưu mới đang cuốn hút nhiều nước, nhiều khối nước tham gia vào trào lưu chung hội nhập kinh tế quốc tế. Các nghiên cứu trong nước Khác với các nước, ở nước ta, các nghiên cứu không đi sâu vào các vấn đề liên quan đến nguồn gốc, lợi thế trong thương mại quốc tế, mà dựa vào các lý thuyết đó để giải thích những nguyên nhân hạn chế cũng như đề xuất giải pháp phát triển cho xuất khẩu nước ta. Hơn nữa, trong các nghiên cứu đã có, các tác giả thường không đề cập đến một cách toàn diện các khía cạnh của xuất khẩu mà thường tập trung vào một số khía cạnh của phát triển xuất khẩu như phát triển thị trường xuất khẩu, phát triển nguồn hàng xuất khẩu, chất lượng của tăng trưởng xuất khẩu… * PGS. Nguyễn Văn Nam (2001), trong “Chính sách và giải pháp phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn đến năm 2020”(Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số 2001 - 78 - 001), đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển xuất khẩu.
Theo tác giả, phát triển xuất khẩu là một khái niệm bao hàm nhiều vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, trong đó quan trọng nhất là 2 vấn đề: phát triển thị trường xuất khẩu và phát triển hàng hóa xuất khẩu.