phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn Chƣơng 2: Phát triển tƣ duy sáng tạo cho HS thông qua hoạt động dạy học chủ đề phân số ở trƣờng Tiểu học Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề chung về tư duy 1. Khái niệm về tư duy Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái con ngƣời chƣa biết, chƣa nhận thức đƣợc. Nhiệm vụ của cuộc sống luôn đòi hỏi con ngƣời phải hiểu thấu những cái chƣa biết đó, phải vạch ra đƣợc cái bản chất và những quy luật tác động của chúng.
Quá trình nhận thức đó gọi là tƣ duy. Theo tâm lý học, tƣ duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao – bộ não ngƣời. Tƣ duy phản ánh thế giới vật chất dƣới dạng các hình ảnh lý tƣởng: “Tƣ duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng mà trƣớc đó ta chƣa biết”. Quá trình phản ánh này là quá trình gián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, đƣợc nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhƣng vƣợt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính.
Theo Từ điển Tiếng Việt [26]: Tƣ duy là “giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng nhiều hình thức nhƣ biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán và suy lí”. Dƣới góc độ giáo dục, có thể hiểu tƣ duy là hệ thống gồm nhiều ý tƣởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Theo cách hiểu đơn giản nhất, TD là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích.
Những kích thích này nhận đƣợc thông qua bất kì giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác (touch), thị giác (sight), thính giác (sound), khứu giác (smell) hay vị giác (taste). Tóm lại, có thể hiểu TD là một hiện tƣợng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con ngƣời. Cơ sở sinh lý của TD là sự hoạt động của vỏ đại não. Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt 8 động trí tuệ.
Mục tiêu của TD là tìm ra các triết lý, lý luận, phƣơng pháp luận, phƣơng pháp, giải pháp trong các tình huống hoạt động của con ngƣời. Bản chất của tư duy Tƣ duy là một quá trình nhận thức cao của con ngƣời, phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não dƣới dạng khái niệm, phán đoán, suy lí,…Tƣ duy nảy sinh trong hoạt động xã hội, là sản phẩm của hoạt động xã hội, bao hàm những quá trình nhận thức tiêu biểu: phân tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa…Kết quả của quá trình tƣ duy là sự nhận thức về một đối tƣợng nào đó ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn. Các thao tác tư duy Tính giai đoạn của TD mới chỉ phản ánh đƣợc cấu trúc bên ngoài của TD, còn nội dung bên trong của mỗi giai đoạn trong hành động TD lại là một quá trình diễn ra trên cơ sở những thao tác tƣ duy. Có thể nói các thao tác trí tuệ chính là các quy luật bên trong của TD.
Theo các kết quả nghiên cứu trong tâm lý học, TD diễn ra thông qua các thao tác sau: Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó vạch ra đƣợc những thuộc tính, những đặc điểm của đối tƣợng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể đƣợc hiển minh. Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tƣợng nhận thức đã đƣợc tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tƣợng một cách bao quát, toàn diện hơn. Trong TD, tổng hợp là thao tác đƣợc xem là mang dấu ấn sáng tạo. Khi nói ngƣời có “đầu óc tổng hợp” thì cũng tƣơng tự nhƣ nói ngƣời có “đầu óc sáng tạo”.
So sánh - tƣơng tự: là thao tác tƣ duy nhằm “xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tƣợng của hiện thực”. Nhờ so sánh ngƣời ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. 9 Ngoài ra còn tìm thấy những dấu hiệu bản chất và không bản chất thứ yếu của chúng. Trừu tƣợng hoá: trừu tƣợng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và chỉ giữ lại những yếu tố đặc trƣng, bản chất của đối tƣợng nhận thức.
Khái quát hoá: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tƣợng. Kết quả của khái quát hoá là cho ra một đặc tính chung của hàng loạt các đối tƣợng cùng loại hay tạo nên nhận thức mới dƣới hình thức khái niệm, định luật, quy tắc. Tóm lại, các thao tác tƣ duy cơ bản đƣợc xem nhƣ quy luật bên trong của mỗi hành động TD. Trong thực tế TD, các thao tác đan chéo vào nhau mà không theo trình tự máy móc.
Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ TD, điều kiện TD, không phải mọi hành động TD cũng nhất thiết phải thực hiện tất cả các thao tác trên. Các vấn đề về tư duy sáng tạo 1. Tư duy sáng tạo Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không phụ thuộc vào cái đã có. Sáng tạo đƣợc nghiên cứu trên nhiều khía cạnh nhƣ một quá trình phát sinh ra cái mới, nhƣ một kiểu tƣ duy, nhƣ một năng lực của con ngƣời và thậm chí nhƣ một hiện tƣợng tồn tại trong sự tiến hóa của thế giới tự nhiên.
TDST là một thuộc tính, một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con ngƣời; hoạt động sáng tạo diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực; bản chất của sáng tạo là con ngƣời tìm ra cái mới, cái độc đáo và có giá trị xã hội. Đây là một điểm chung mà nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh nhƣng đƣợc nhìn dƣới nhiều góc độ khác nhau, có tác giả quan tâm đến cái mới của sản phẩm hoạt động, có tác giả lại quan tâm đến cách thức, đến quá trình tạo ra cái mới đó. Song cái mới cũng có nhiều mức độ, có cái mới đối với toàn xã 10 hội, có cái mới chỉ đối với bản thân ngƣời tạo ra nó. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu là đều nhấn mạnh đến ý nghĩa xã hội của sản phẩm sáng tạo.
Chúng ta quan niệm: TDST là tƣ duy có khuynh hƣớng phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tƣởng mới, cách giải quyết mới không theo tiền lệ đã có. Các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo Trong nghiên cứu về TDST, đã có nhiều quan niệm về các đặc trƣng (thuộc tính) của TDST. Các quan niệm đều tập trung cho rằng tính linh hoạt, mềm dẻo, tính thuần thục, tính độc đáo, tính nhạy cảm vấn đề, tính phê phán, tính độc lập, tính chi tiết, khả năng giải quyết vấn đề theo cách mới là những đặc trƣng của TDST. Tính mềm dẻo (flexibility): Tính mềm dẻo là khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác.
Đó là năng lực chuyển dịch dễ dàng nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, xây dựng phƣơng pháp tƣ duy mới, tạo ra sự vật mới trong mối liên hệ mới,.dễ dàng thay đổi các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con ngƣời. Tính thuần thục (fluency): Tính thuần thục (lƣu loát, nhuần nhuyễn) thể hiện khả năng làm chủ tƣ duy, làm chủ kiến thức, kĩ năng và thể hiện tính đa dạng của các cách xử lý khi giải quyết vấn đề. Đó chính là năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, đƣa ra giả thuyết về ý tƣởng mới. Nó đƣợc đặc trƣng bởi khả năng tạo ra một số lƣợng nhất định các ý tƣởng.
Tính độc đáo (originality): Tính độc đáo là khả năng tìm kiếm và quyết định phƣơng thức lạ và duy nhất. Ngoài các đặc trƣng cơ bản đã nêu, TDST còn đƣợc đặc trƣng bởi nhiều yếu tố khác. Chẳng hạn nhƣ: tính chi tiết (elaboration): là khả năng lập kế hoạch, phối hợp giữa các ý nghĩ và hành động, phát triển ý tƣởng, kiểm tra và chứng minh ý tƣởng. Nó làm cho TD trở thành một quá trình, từ chỗ xác định đƣợc vấn đề cần giải quyết, huy động vốn kiến 11 thức kinh nghiệm có thể sử dụng để giải quyết đến cách giải quyết, kiểm tra kết quả.
Nghĩa là những ý tƣởng sáng tạo phải thoát ra biến thành sản phẩm có thể quan sát đƣợc; tính nhạy cảm (problemsensibility): là năng lực phát hiện vấn đề, mâu thuẫn, sai lầm, bất hợp lý một cách nhanh chóng, có sự tinh tế của các cơ quan cảm giác, có năng lực trực giác, có sự phong phú về cảm xúc, nhạy cảm, cảm nhận đƣợc ý nghĩ của ngƣời khác. Tính nhạy cảm vấn đề biểu hiện sự thích ứng nhanh, linh hoạt. Tính nhạy cảm còn thể hiện ở chỗ trong những điều kiện khắc nghiệt, khó khăn, gấp rút về mặt thời gian mà chủ thể vẫn tìm ra đƣợc giải pháp phù hợp, tối ƣu,. Các đặc trƣng trên của TDST không tách rời nhau mà chúng có liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, trong đó tính độc đáo đƣợc cho là quan trọng nhất trong biểu đạt sáng tạo, tính nhạy cảm vấn đề đi liền với cơ chế xuất hiện sáng tạo.
Tính mềm dẻo, thuần thục là cơ sở để có thể đạt đƣợc tính độc đáo, tính nhạy cảm, tính chi tiết và hoàn thiện. Tư duy sáng tạo ở học sinh tiểu học Có thể khẳng định rằng HS tiểu học, đặc biệt là HS cuối cấp đã có có đầy đủ các điều kiện cần thiết cho hoạt động nhận thức nói chung, hoạt động sáng tạo nói riêng.