CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1 1 Tư du 1. Khái niệm tư duy Tƣ duy là một phạm trù thuộc triết học. Khái niệm tƣ duy cho tới nay vẫn còn nhiều cách hiểu, cách nhận thức tùy thuộc vào những lĩnh vực khác nhau: - Theo [4], [13] khẳng định tƣ duy là sự cảm nhận của mỗi con ngƣời, là một quá trình tâm lý thể hiện những thuộc tính, bản chất tâm lý bên trong mà trƣớc đó ta chƣa biết. - Theo triết học, tƣ duy phản ánh hiện thực khác quan một cách gián tiếp thông qua não bộ con ngƣời, là sản phẩm cao nhất của t chức bộ não.
Tƣ duy xuất hiện trong giai đoạn sản xuất của con ngƣời và đảm bảo phản ánh tích cực thế giới thực tại thông qua các khái niệm, suy luận… - Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Tƣ duy là sản phẩm cao nhất của vật chất đƣợc t chức một cách đặc biệt – bộ não ngƣời. Tƣ duy phản ánh hiện thực khách quan dƣới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận,…” Thông qua những nhận định trên, chúng ta có thể hiểu tƣ duy là một hoạt động nhận thức của con ngƣời, là một hiện thực tâm lí phản ánh thực tại khách quan vào bộ não của con ngƣời dƣới dạng các khái niệm, lí luận và phán đoán. Trong cuộc sống còn rất nhiều thứ con ngƣời chƣa nhận thức hết đƣợc. Quá trình phát triển đòi hỏi con ngƣời phải có nhận thức ở mức độ cao hơn, có thể hiểu thấu đƣợc bản chất và quy luật của những vấn đề không thể giải quyết đƣợc thông qua nhận thức cảm tính.
Do đó, con ngƣời tƣ duy. Quá trình tƣ duy gồm nhiều thao tác phức tạp nhƣ phân tích, so sánh, t ng hợp, trừu tƣợng hóa, khái quát hóa,… hoạt động tƣ duy chính là hoạt động trí tuệ. Phương tiện và tính chất của tư duy - Phƣơng tiện của tƣ duy Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với tƣ duy, là phƣơng tiện của tƣ duy. Tƣ duy phản ánh thực tại khách quan thông qua ngôn ngữ.
Tƣ duy không thể tồn tại nếu nằm ngoài ngôn ngữ. - Tƣ duy có những đặc điểm, tính chất sau + Tính trừu tƣợng và tính khái quát: Tƣ duy phản ánh những dấu hiệu có bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật do nhiều sự vật, sự việc hợp thành một phạm trù, một nhóm hoặc phản ánh trên những sự vật đó những cái cụ thể. + Tính gián tiếp: Con ngƣời không tƣ duy trực tiếp mà sử dụng ngôn ngữ để tƣ duy, thông qua ngôn ngữ, con ngƣời nhận thức đƣợc bản chất và các quy luật bên trong của sự vật, hiện tƣợng. + Tính có vấn đề: Tƣ duy chỉ nảy sinh khi con ngƣời gặp những tình huống “có vấn đề”.
Vấn đề đó phải chứa đƣợc đƣợc những mục đích mới mà con ngƣời muốn nhận thức đầy đủ và tìm ra quy luật. Tuy nhiên vấn đề cần giải quyết phải đủ sức, nằm trong ngƣỡng hiểu biết của cá nhân và cá nhân có nhu cầu để giải quyết cũng nhƣ có đủ khả năng nhận thức. Ngoài ra, tƣ duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính. Tƣ duy phải dựa trên những tài liệu đã có, những kinh nghiệm thông qua cảm tính.
Tƣ duy có vai trò quan trọng trong xã hội thực tế, con ngƣời tƣ duy để nhận thức đƣợc các vấn đề khách quan và thông qua đó tìm ra những quy luật chung phục vụ cho hoạt động thực tế. Do đó giáo viên cần chú trọng thiết kế các tình huống có vấn đề, t chức cho học sinh các hoạt động học tập độc lập, sáng tạo để phát triển năng lực tƣ duy. Quá trình tư duy Theo [9], [3] và [4], ta xây dựng sơ đồ một quá trình tƣ duy nhƣ sau: 6 z Hình 1. Sơ đồ quá trình tư duy Giải Đúng quyết vấn đề Huy động Hình thành giả Nhận thức và sàng lọc thiết và kiểm tra vấn đề kiến thức giả thiết Hoạt Sai động tƣ duy mới Thông qua đó chúng ta có thể thấy quá trình tƣ duy gồm bốn bƣớc chính nhƣ sau: - Bƣớc 1: Nhận thức vấn đề và biểu đạt nó thành nhiệm vụ tƣ duy.
Nhiệm vụ tƣ duy đƣợc hình thành khi cá nhân gặp một tình huống có vấn đề, nhận thấy những mâu thuẫn và có nhu cầu giải quyết vấn đề. Nhận thức đƣợc vấn đề là giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình tƣ duy. - Bƣớc 2: Huy động, liên tƣởng tới những kiến thức, tri thức có liên quan đến vấn đề. Sàng lọc, loại bỏ những tri thức không cần thiết trong quá trình giải quyết vấn đề.
- Bƣớc 3: Xây dựng lên những giải thuyết, xác minh giải thuyết, nếu giả thuyết đúng thì chuyển sang bƣớc 4, nếu giải thuyết sai thì bắt đầu hoạt động tƣ duy mới. - Bƣớc 4: Tiến hành giải quyết vấn đề. Vấn đề đƣợc giải quyết lại khơi gợi cho những quá trình tƣ duy mới. Các hình thức tư duy Tùy vào mục đích mà ngƣời ta phân loại tƣ duy thành nhiều hình thức khác nhau.
Những hình thức tƣ duy hay gặp nhất bao gồm: - Tƣ duy logic là loại tƣ duy giải quyết nhiệm vụ dựa trêm sự suy luận logic có hệ thống, tuần tự và khoa học. Tƣ duy logic phản ánh những quy luật và những mối liên hệ mà nhận thức cảm tính không phản ánh đƣợc. - Tƣ duy sáng tạo (hay còn gọi là tƣ duy phân tích) là loại tƣ duy giải quyết nhiệm vụ dựa trên việc suy luận những vấn đề ra ngoài khuôn kh , có sự sáng tạo ra cái mới. - Tƣ duy phê phán là loại tƣ duy phân tích suy luận có hệ thống và có nhận xét, phê phán.
- Tƣ duy thực hành là loại tƣ duy giải quyết nhiệm vụ bằng các tình huống dựa trên thực hành. Tùy thuộc vào mức độ phát triển của tƣ duy hay hình thức biểu diễn và giải quyết vấn đề mà ngƣời ta chia ra thành nhiều loại tƣ duy khác nhau. Các hình thức tuy duy có mối quan hệ mật thiết với nhau trong suốt quá trình con ngƣời thực hiện tƣ duy. uận văn nghiên cứu tƣ duy sáng tạo gắn với nội dung dạy toán trung học cơ sở.
Các thao tác của tư duy Tƣ duy chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn cá nhân tiến thành các thao tác tƣ duy cơ bản để giải quyết vấn đề đặt ra nhƣ phân tích – t ng hợp, so sánh – tƣơng tự, trừu tƣợng hóa – khái quát hóa. Để đánh giá một cá nhân có tƣ duy hay không chính là đánh giá xem họ có sử dụng những thao tác này hay không. Các thao tác tƣ duy chính là quy luật bên trong mỗi giai đoạn của tƣ duy. Ngoài các thao tác trên, còn có các thao tác nhƣ đặc biệt hóa, cụ thể hóa, hệ thống hóa, phân loại… - Phân tích và t ng hợp Phân tích là hoạt động trí óc phân chia đối tƣợng nhiệm vụ thành những 8 z bộ phận, dấu hiệu, nhiệm vụ khác nhau nhằm mục đích nghiên cứu những đặc điểm tính chất của đối tƣợng đó một cách toàn vẹn và sâu sắc hơn.
T ng hợp là hoạt động trí óc sắp xếp, gộp những thuộc tính, đặc điểm, thành phần của đối tƣợng thành một chỉnh thể thống nhất nhằm mục đích nghiên cứu những đặc điểm tính chất của đối tƣợng đó một cách khái quát hơn. Phân tích và t ng hợp là hai quá trình có mối quan hệ biện chứng với nhau, tạo lên chỉnh thể thống nhất: sự t ng hợp đƣợc tiến hành theo kết quả phân tích, còn sự phân tích đƣợc tiến hành dựa trên t ng hợp. Phân tích và t ng hợp đảm bảo hình thành quá trình tƣ duy của học sinh. Nếu không tiến hành t ng hợp mà chỉ đi phân tích thì chỉ có thể nhìn nhận sự đối tƣợng một cách phiến diện, không nhìn nhận đƣợc sự vật, hiện tƣợng trên một thể thống nhất nên không đầy đủ và chính xác.
Ngƣợc lại nếu chỉ t ng hợp mà không phân tích thì sẽ không đi sâu vào cái cụ thể của sự vật hiện tƣợng đƣợc. Khi học sinh học về một khái niệm mới, học sinh phải biết cách phân tích nội dung, bản chất, quy luật của khái niệm đó để nhìn nhận khái niệm một cách toàn vẹn và sâu sắc, thông qua đó phát hiện những đặc điểm chung, những mối liên hệ của khái niệm đó với khái niệm khác, từ đó có thể tiến hành t ng hợp. Khi giải bài tập toán, phải có cái nhìn bao quát bài toán đó để nhận dạng đƣợc bài toán, phân chia bài toán thành các trƣờng hợp đặc biệt (ví dụ nhƣ bài toán xét riêng các trƣờng hợp của tam giác nhọn, tam giác tù và tam giác vuông…), giải từng bài toán nhỏ đó rồi t ng hợp thành lời giải của bài toán đã cho. - So sánh và tƣơng tự So sánh là hoạt động trí óc xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự bằng nhau hay không bằng nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa các sự vật và hiện tƣợng hoặc các thuộc tính có mối liên hệ với nhau của các sự vật, hiện tƣợng đó.
9 z So sánh có vai trò tích cực trong việc nhận thức bản chất của sự vật, hiện tƣợng. Chúng ta không thể hiểu đƣợc bản chất của sự vật, hiện tƣợng nếu không có sự so sánh với các sự vật, hiện tƣợng khác. Tƣơng tự là hoạt động trí óc xác định những sự vật, hiện tƣợng có nét tƣơng đồng với sự vật, hiện tƣợng cần xét. Khi dạy học khái niệm, quy tắc và phƣơng pháp, giáo viên cần hƣớng dẫn học sinh so sánh với các khái niệm, quy tắc và phƣơng pháp khác để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa chúng.
Thông qua đó thấy đƣợc mối liên hệ giữa chúng để hiểu sâu hơn về các định lý, quy tắc một cách có hệ thống trong một t ng thể toán học. Trong dạy học về các phép toán trên tập hợp số hữu tỉ, học sinh nhận thức đƣợc sự khác nhau và khác nhau khi cộng trừ hai số tự nhiên và cộng trừ hai số hữu tỉ. Phép toán trên tập hợp Phép toán trên tập hợp số tự nhiên số hữu tỉ Giống nhau - Các tính chất của phép cộng và phép trừ nhƣ giao hoán, kết hợp,… - Các quy tắc chuyển vế và quy tắc dấu ngoặc. Khác nhau Tính toán đơn giản.
Phải tiến hành quy đồng để hai số có cùng mẫu số chung rồi mới tiến hành phép toán.