phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Các biện pháp dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 nhằm phát triển năng lực TDPB cho HS lớp 12 Chƣơng 3: Thực nghiệm. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Về năng lực và dạy học theo hướng phát triển năng lực HS 1. Khái niệm năng lực Có nguồn gốc từ tiếng La tinh “competentia” - nghĩa là gặp gỡ - năng lực là một khái niệm trọng tâm của tâm lý học.
Trong tiếng Anh, “competence” có nghĩa là năng lực hay khả năng, hoặc thẩm quyền [2, tr. Đến nay có nhiều cách định nghĩa về năng lực, song nhìn một cách khái quát có hai loại quan điểm nhƣ sau: Quan điểm thứ nhất: năng lực là một điều kiện tâm lý của cá nhân để hoàn thành một hoạt động nào đó hiệu quả. Petropxki là những ngƣời đại diện cho quan điểm này. Quan điểm thứ hai: năng lực là những thuộc tính của cá nhân gồm những thuộc tính tâm lý và những thuộc tính giải phẫu sinh lý.
Platonov là những ngƣời đại diện cho quan điểm này. Rudich, năng lực là tính chất tâm sinh lí của con ngƣời chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng nhƣ hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định [Theo 17, tr. Từ điển Webster’s New 20th Century, 1965, định nghĩa: năng lực là khả năng đáp ứng thích hợp và đầy đủ các yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động [Theo 2, tr. Theo De Ketele (1995), một tập hợp trật tự các kĩ năng (hoạt động) tác động lên một nội dung trong một loại tình huống cho trƣớc để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra tạo thành năng lực [Theo 17, tr.
Weinert (2001) quan niệm: “Năng lực là những khả năng hoặc kĩ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com [Theo 2, tr. Những năm gần đây, ở Việt Nam, vấn đề năng lực đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm. Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực đƣợc hiểu là: - Chỉ một khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó - Là một phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hình thành một hoạt động nào đó với chất lƣợng cao [27, tr. Theo Bộ GD-ĐT, “năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt có tổ chức kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân.nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”.
Trong đó năng lực bao gồm năng lực chuyên môn và năng lực chung (cốt lõi). Nếu năng lực chung là năng lực cơ bản ai cũng cần phải có để lao động, học tập hiệu quả, thì năng lực chuyên biệt lại đƣợc hình thành do tố chất của mỗi ngƣời [3, tr. Nhìn chung, dù có nhiều quan niệm khác nhau, song các nghiên cứu đều thống nhất: năng lực có vai trò quan trọng, làm nên thành công của mỗi ngƣời; năng lực là sự tổng hoà của tri thức, kĩ năng, thái độ; thƣớc đo của năng lực là hiệu quả của hoạt động, là những yếu tố có thể quan sát đƣợc; hoạt động là điều kiện để năng lực tồn tại và phát triển. Dạy học theo quan điểm phát triển năng lực HS Là một xu hƣớng phổ biến trong giáo dục quốc tế hiện nay, CT giáo dục hƣớng tới mục tiêu phát triển năng lực ở ngƣời học (dạy học định hƣớng kết quả đầu ra) chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào những tình huống thực tiễn, phát triển toàn diện phẩm chất, nhân cách ở HS.
Dạy học theo quan điểm phát triển năng lực có những đặc điểm nhƣ sau: Mục tiêu dạy học đƣợc mô tả thông qua các nhóm năng lực, chỉ có những hƣớng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phƣơng pháp, tổ chức, đánh giá để hƣớng tới mục tiêu dạy học, không quy định nội dung dạy học chi tiết. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phƣơng pháp dạy học: không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ, bồi dƣỡng tri thức mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn, tăng cƣờng việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV- HS theo hƣớng cộng tác nhằm phát triển năng lực xã hội. Đánh giá kết quả học tập của HS: chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau, không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện, hiểu kiến thức, kĩ năng đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Giáo dục Việt Nam nhiều năm gần đây đã bắt kịp với xu thế của thế giới trong việc xác định mục tiêu giáo dục.
Nghị quyết số 88 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới CT, SGK giáo dục phổ thông đã quy định:“Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dƣỡng năng khiếu, định hƣớng nghề nghiệp cho HS.” CT giáo dục phổ thông mới của Bộ GD ĐT, đƣợc công bố tháng 7 năm 2017, xác định 10 năng lực cần hình thành cho HS gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất [4, tr. Năng lực của con ngƣời đƣợc hình thành và phát triển dƣới điều kiện của dạy học và giáo dục. Các nhà tâm lý học hiện đại đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải dạy học phát triển năng lực tƣ duy ở nhà trƣờng, bởi đó là điều có ảnh hƣởng rất lớn đến sự phát triển toàn diện của mỗi HS và sự tiến bộ chung của xã hội. Trong đó, TDPB là loại năng lực cần đƣợc chú ý phát triển nhiều hơn nữa ở con ngƣời Việt Nam trong thế kỉ 21.
Về tư duy phản biện (Critical thinking) 1. Quan niệm về tư duy phản biện Thuật ngữ critical trong cụm từ critical thinking có thể dịch là phê phán hoặc phản biện. Theo Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang, “phê phán là từ chỉ hành 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động chỉ ra cái chƣa tốt, cái sai lầm, không bao hàm ý nghĩa đánh giá”. Trong khi đó, critical có nội hàm rộng hơn phê phán, mang ý nghĩa đƣa ra phán đoán [12, tr.
Luận văn sử dụng cách dịch từ critical thinking là tư duy phản biện để phù hợp hơn với vấn đề nghiên cứu. Đã có nhiều quan niệm khác nhau về TDPB của các tác giả. Chúng tôi xin trích dẫn một số quan niệm: TDPB là suy nghĩ một cách có lý, tập trung vào việc giải quyết vấn đề nhằm tạo đƣợc niềm tin và hành động (Ennis, 1993). TDPB là khả năng, hành động để thấu hiểu và đánh giá đƣợc những dữ liệu thu thập đƣợc thông qua quan sát, giao tiếp và tranh luận (Michael Scriven).
TDPB là loại tƣ duy có mục đích, đƣợc trình bày một cách logic và hƣớng tới thực hiện mục tiêu. Tƣ duy đó bao gồm giải quyết vấn đề, đƣa ra các kết luận chính xác, có hệ thống tính đến những khả năng có thể xảy ra (Diane F. 1996) TDPB là một quá trình tƣ duy nhằm chất vấn các giả định hay giả thiết. Đó là cách khẳng định rằng một nhận định nào đó là đúng hay sai, đôi khi đúng, có phần đúng (Russell Brooker, 2012).
17] Nhìn chung, các quan niệm đều thể hiện cách hiểu thống nhất về TDPB trên các nét chính sau: là hoạt động nhận thức của trí óc của con ngƣời, có đặc điểm nhìn vấn đề một cách hoài nghi tích cực, nhiều chiều, lật đi lật lại vấn đề để phân tích độ tin cậy, nhìn nhận vấn đề một cách hợp lý, chỉ ra chỗ không hợp lý, sử dụng lý lẽ, luận cứ, lập luận chặt chẽ, logic, có cơ sở thuyết phục để bảo vệ chính kiến, chân lý, các quan điểm khác nhau. Kế thừa những nghiên cứu về TDPB, chúng tôi quan niệm: Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích, đánh giá, liên hệ mọi khía cạnh của một thông tin đã có với một thái độ hoài nghi tích cực cho vấn đề đã đặt ra, từ đó làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề bằng những lập luận thuyết phục. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những biểu hiện đặc trưng của TDPB K.Beyer (1995) nêu lên các đặc điểm thiết yếu của ngƣời có TDPB: - Không có thành kiến (biết lắng nghe và chấp nhận ý kiến trái ngƣợc với mình, biết xem xét các quan điểm khác nhau và sẽ thay đổi quan điểm khi suy luận cho thấy phải thay đổi); - Biết vận dụng các tiêu chuẩn (cần phải có các điều kiện đƣợc thỏa mãn nhất định để một phát biểu trở thành có thể tin cậy đƣợc); - Có khả năng tranh luận (đƣa ra các lý lẽ với các bằng chứng hỗ trợ, biết nhận dạng, đánh giá và xây dựng các lý lẽ); - Có khả năng suy luận (có khả năng rút ra kết luận từ một hoặc nhiều chi tiết (để làm đƣợc điều này cần phải thấy đƣợc mối quan hệ logic giữa các dữ liệu) - Xem xét vấn đề dƣới nhiều góc độ khác nhau (cần tiếp cận hiện tƣợng từ nhiều quan điểm khác nhau); - p dụng các thủ thuật tƣ duy khác nhau nhƣ đƣa ra phán đoán, thiết lập các giả [Theo12, tr.