Chương I của Luật các TCTD). Một định nghĩa khác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tài sản (vốn) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở tín nhiệm người sử dụng vốn hiệu quả để có khả năng hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu (PGS. Về bản chất, tín dụng có nghĩa là một mối quan hệ gồm tối thiểu hai chủ thể, trong đó có sự chuyển giao giữa hai bên về tiền hoặc tài sản cho bên kia được quyền sử dụng theo một quy ước thỏa thuận cụ thể về thời gian, chi phí, cách thức và có sự cam kết hoàn trả đầy đủ và kèm theo một khoản tiền khác như một khoản chi phí sử dụng tài sản. Tùy theo các chủ thể tham gia giao dịch mà có thể chia tín dụng thành một số loại như sau: - Tín dụng thương mại: Là loại hình mà các chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân cấp cho nhau không có sự tham gia của ngân hàng.
Hình thức phổ biến nhất đó là trả chậm. - Tín dụng nhà nước: Là quan hệ vay mượn giữa nhà nước và xã hội phục vụ các mục tiêu xã hội kinh tế chính trị. 10 - Tín dụng cá nhân: là quan hệ giữa cá nhân và tổ chức hoặc cá nhân với một cá nhân khác dưới một số hình thức như: tổ chức phát hành trái phiếu và bán cho các cá nhân, các cá nhân vay mượn tiền của nhau mà không thông qua một thị trường chính thức nào. - Tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các chủ thể kinh tế - tài chính của toàn xã hội (doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các cấp quản lý nhà nước hoặc cá nhân).
Trong các loại hình tín dụng nêu trên, Tín dụng ngân hàng là loại hình mang bản chất chung của tín dụng nhất. Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng tiền tệ và ngân hàng sẽ đóng cả hai vai trò là người đi vay và người cho vay. Tín dụng ngân hàng hoạt động trong phạm vi rộng hơn do mạng lưới chi nhánh phân bố khắp lãnh thổ và thu hút mọi chủ thể trong nền kinh tế. Chính vì mức độ phủ sóng lớn do vậy ngân hàng đang dần trở thành một kênh hỗ trợ Chính phủ thực hiện các chính sách điều tiết kinh tế, phát triển xã hội, bảo vệ môi trường.
Tín dụng xanh là một nhánh trong rất nhiều các hình thức tín dụng khác. - Khái niệm về tín dụng xanh: Theo Aizawa và Yang (2010), tín dụng xanh là một trong số những giải pháp áp dụng để đối phó với các thách thức môi trường và xã hội của thế giới thông qua các công cụ tài chính. Có thể hiểu tín dụng xanh (Green Credit) là khoản vay mà các tổ chức tín dụng cho vay đối với các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, sản xuất kinh doanh không gây rủi ro đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về tín dụng xanh được cấp cho dự án đầu tư sau đây: a) Sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; b) Ứng phó với biến đổi khí hậu; c) Quản lý chất thải; d) Xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường; 11 đ) Phục hồi hệ sinh thái tự nhiên; e) Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; g) Tạo ra lợi ích khác về môi trường Như vậy, tín dụng xanh được hiểu là những khoản tín dụng do các Tổ chức tín dụng thực hiện cấp đối với mục đích đầu tư, sản xuất hợp pháp và không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, hoặc các dự án, phương án có mục tiêu là giảm ô nhiễm, bảo vệ môi trường, cải thiện hệ sinh thái chung của xã hội.
Tín dụng xanh thực tế được thực hiện dưới nhiều hình thức cấp tín dụng khác nhau như: tài trợ vốn, bảo lãnh, LC…. dành cho các phương án, dự án đã tính toán các tác động tích cực tới môi trường và phát triển bền vững của môi trường, ví dụ như: tài trợ các Dự án năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió, sinh khối ….), các dự án xử lý rác thải bảo vệ môi trường (nhà máy nước, nhà máy xử lý rác…), các dự án tiết kiệm năng lượng sử dụng các công nghệ hiện tại để giảm các nhu cầu tiêu hao nhiệt liệu, vật liệu…. Từ lâu nay, các nhà kinh tế đã nhận ra bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế là hai vấn đề có sự liên quan mật thiết và vô cùng đặc biệt. Theo đó, môi trường là chủ thể và đồng thời cũng là khu vực để có thể phát triển, trong khi đó phát triển kinh tế là tác nhân chính gây ra các thay đổi về môi trường.
Trong mối liên hệ mật thiết giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường này, các TCTD sẽ có một vị trí quan trọng giống như một mắt xích kết nối có tác động đến môi trường thông qua các định hướng trong hoạt động của các khách hàng. Hoạt động kiểm soát vấn đề môi trường tại các TCTD tương tự như việc TCTD thực hiện kiểm soát rủi ro trong hoạt động. Công tác kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng sẽ giúp cho TCTD có thể giảm thiểu tối đa các nguy cơ có thể gây ra tổn thất đến TCTD, đồng thời còn phát triển được giá trị sinh lời cũng như gia tăng uy tín của TCTD. Vì vậy, ngoài mục tiêu phát triển tín dụng đơn thuần, các TCTD còn cũng có trách nhiệm trong việc chú trọng và gia tăng các biện pháp để kiểm soát các ảnh hưởng đến môi trường và xã hội trong hoạt động kinh doanh, ngoài ra, các TCTD cần chú trọng đẩy mạnh các dịch vụ, sản phẩm, phương án và dự án có tác động tích cực tới môi 12 trường.
Tín dụng xanh ra đời với mục tiêu thông qua việc giảm các tác động tiêu cực của khối doanh nghiệp đến môi trường - xã hội, tín dụng xanh không những có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường mà còn góp phần vào quá trình phát triển bền vững của nền kinh tế. - Các khái niệm khác liên quan đến TDX: + Nền kinh tế xanh là nền kinh tế cải thiện đời sống của con người và tài sản xã hội, đồng thời tập trung vào việc giảm thiểu các hiểm họa môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái và khan hiếm tài nguyên. Đây được coi là một mô hình mới, góp phần giải quyết các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên (theo Chương trình môi trường Liên hợp quốc - 2010). + Tăng trưởng xanh: được hiểu là sự “xanh hóa” nền kinh tế truyền thống đồng thời là một chiến lược kinh tế để có thể hướng đến nền kinh tế xanh.
Có thẻ hiểu rằng, tăng trưởng xanh là một kế hoạch nhằm tối đa hóa sản lượng kinh tế và giảm thiểu các tác động xấu đến hệ sinh thái. Tăng trưởng xanh được coi là hướng đi mới để có thể tăng trưởng kinh tế gắn với với mục tiêu giảm nghèo và đảm bảo môi trường bền vững. Tăng trưởng xanh tập trung vào chất lượng tăng trưởng thông qua thúc đẩy hiệu quả sinh thái, ngoài ra, sự khác biệt giữa tăng trưởng xanh so với tăng trưởng truyền thống đó là không đặt mục tiêu “Phát triển trước, bảo vệ môi trường sau”, thay vào đó, tăng trưởng xanh sẽ đẩy mạnh phòng ngừa, ngăn chặn, kết hợp các mục tiêu bảo vệ môi trường, giảm phát thải CO2 trong hoạt động sản xuất kinh doanh làm động lực cho tăng trưởng. Tóm lại, tăng trưởng xanh là quá trình thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời duy trì và phát triển vốn tự nhiên; giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường; kiềm chế phát thải khí nhà kính; và cung cấp nhiều việc làm hơn cho xã hội (theo Chương trình môi trường Liên hợp quốc - 2010).
+ Một khái niệm mới trong lĩnh vực tín dụng xanh đó là “Ngân hàng xanh”. Với nghĩa rộng thì “Ngân hàng xanh chính là Ngân hàng bền vững” (Imeson M. Để đảm bảo việc phát triển một cách bền vững thì các ngân hàng cần có các chủ trương được xác định dựa vào các đánh giá tổng thể, toàn cảnh hơn, 13 đồng thời các ngân hàng cũng cần hành động dựa trên các lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích của nền kinh tế, xã hội và các yếu tố về môi trường. Việc này sẽ tạo ra một mối quan hệ mật thiết giữa ngân hàng với các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và nếu các ngân hàng đặt các lợi ích của ngân hàng gắn liền với các lợi ích của xã hội, môi trường thì hoạt động phát triển mới thực sự bền vững.
Theo nghĩa hẹp, “Ngân hàng xanh” được hiểu là nghiệp vụ chuyên môn được cung cấp bởi ngân hàng trong đó có các nội dung để có thể khuyến khích sự phát triển các dự án, phương án có mục tiêu gắn với bảo vệ môi trường và giảm lượng CO2 phát sinh ra môi trường, một số ví dụ như: có các hình thức ưu đãi để định hướng việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ xanh cho các cá nhân, doanh nghiệp; bổ sung các tiêu chí đánh giá về môi trường, xã hội khi thẩm định các hồ sơ vay vốn, có các chính sách tín dụng khuyên khích cho các phương án, dự án có hiệu quả tiết kiệm khí nhà kính, các dự án năng lượng tái tạo,. Ngân hàng hiện nay giữ một vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trung gian tài chính, đồng thời có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế bền vững của quốc gia. Chính vì vậy, hệ thống văn bản, chính sách đối với TDX đang và sẽ là nhóm giải pháp đặc biệt quan trọng để có thể định vị sự phát triển kinh tế gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh (UN ESCAP, 2012). Ngân hàng được coi là “xanh” khi đáp ứng cả hai điều kiện: (i) cung cấp dịch vụ xanh trong ngắn hạn và (ii) có chiến lược kinh doanh dài hạn đáp ứng các tiêu chí về môi trường và trách nhiệm xã hội.
Đặc điểm của Tín dụng xanh Tín dụng xanh là một hình thức tín dụng đặc biệt do vậy nó bao gồm các đặc điểm của TDNH như: - Thực hiện cấp tín dụng bằng hình thức tiền tệ.