phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của Luận văn gồm 4 chương. Cụ thể như sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển tín dụng xanh Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kinh nghiệm hỗ trợ các Ngân hàng thương mại phát triển tín dụng xanh Chƣơng 4: Giải pháp và kiến nghị 5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG XANH 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài “'”Hiện có rất nhiều tài liệu với định hướng nghiên cứu “xanh” trên phạm vi thế giới, bao gồm các tài liệu nghiên cứu về vấn đề rộng (như kinh tế xanh, các ngành/lĩnh vực của nền kinh tế xanh, xây dựng nền kinh tế xanh của mỗi quốc gia) hoặc nghiên cứu về vấn đề hẹp và nặng tính kỹ thuật (như giải pháp kỹ thuật cho một ngành, lĩnh vực, hoạt động, dự án xanh”. Nền tảng của các nghiên cứu này là ý tưởng về mối liên hệ giữa nền kinh tế xanh và sự phát triển bền vững. “ “Xuất phát từ nhu cầu thực tế, các TCTD trên thế giới đang áp dụng chiến lược “tín dụng xanh” nhằm đảm bảo quá trình phát triển của tổ chức mình không làm tổn hại đến con người, nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái”.
“Hiện các tài liệu có liên quan đến tăng trưởng xanh, tín dụng xanh hay phát triển tín dụng xanh thường tiếp cận theo 3 hướng: (i) tăng trưởng xanh và các cơ chế cho tăng trưởng xanh tại các quốc gia trên thế giới, các công cụ tài chính để thu hút vốn cho các chương trình, dự án xanh; (ii) vai trò của thị trường tài chính - ngân hàng thu hút vốn cho các chương trình, dự án xanh; (iii) đề ra sáng kiến, hiệp ước của các tổ chức, quỹ ủy thác tín dụng xanh”. Với hướng nghiên cứu thứ nhất, theo Nannette Lindenberg (2014), các công cụ tài chính cho mục đích đầu tư xanh được chia thành 3 nhóm riêng biệt: nhóm công cụ huy động vốn trực tiếp cho các chương trình, dự án xanh 6 z như các khoản vay, trợ cấp, cổ phiếu xanh.; các công cụ không huy động vốn trực tiếp nhưng giúp giảm thiểu rủi ro như bảo hiểm, tài trợ kỹ thuật cho các chương trình, dự án xanh.; nhóm công cụ huy động vốn cho các quỹ tư nhân có mục đích đầu tư xanh”. Ngoài ra, theo tài liệu khác của Gilbert Ahamer (2016), nhấn mạnh ý nghĩa sâu xa của tăng trưởng xanh và cơ chế cho tăng trưởng xanh ở các quốc gia liên minh Châu Âu. Đồng thời, tác giả cũng góp phần làm sáng tỏ những chiến lược và ưu đãi, đặc biệt tập trung vào các công cụ thị trường, chỉ ra những lĩnh vực quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi sang hướng tăng trưởng xanh.
Với hướng nghiên cứu thứ hai, điển hình là chuỗi tài liệu của UNEP (2011-2016), cho rằng hệ thống tài chính có vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển bền vững”. Cũng trên giác độ nghiên cứu trên, có thể kể đến một số các nghiên cứu trên thế giới đề xuất đến “Ngân hàng xanh” dưới giác độ cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng xanh (Kaeufer 2010, González et al., 2016) và tác động của việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng xanh đến hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như góp phần bảo vệ môi trường, đảm bảo tăng trưởng xanh và bền vững (Yang & Ahmed, 2009, Imeson M. Cũng trong hướng nghiên cứu này, rất nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu đồng ý rằng khủng hoảng kinh tế toàn cầu một phần do hoạt động cho vay tràn lan thiếu kiểm soát của các ngân hàng. Các ngân hàng cũng bị lên án do đầu tư vào những ngành công nghiệp có hại cho môi trường được đề cập đến trong nghiên cứu của Chrish Juhnke và cộng sự (2012) và Bihari, S (2011).
Bên cạnh đó, đây cũng là một ngành có thu nhập cao nên phải đối mặt với sự bất bình của dư luận trong bối cảnh thiếu công bằng trong phát triển kinh tế. 7 z Điển hình của hướng tiếp cận thứ ba là Hiệp ước toàn cầu của Liên hợp quốc- UNGC (The UN Global Compact, 2010), bao gồm 10 nguyên tắc mang tính chất tự nguyện. Các ngân hàng áp dụng hiệp ước này cam kết không có hành vi tham nhũng, vi phạm quyền con người, tuân thủ các chuẩn mực lao động, trách nhiệm áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. UNGC không yêu cầu các ngân hàng phải xác nhận việc các doanh nghiệp mà họ đầu tư vào áp dụng những chính sách tương tự”.
Ngoài ra còn có các tài liệu khác về Quỹ Uỷ thác tín dụng xanh của GCTF (2011), các sản phẩm tài chính xanh được đề cập đến trong nghiên cứu của Roopa và cộng sự (2012), hay thị trường tài chính xanh trong nghiên cứu của Höhne và cộng sự (2012).2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước Bên cạnh các tài liệu quốc tế, ở trong nước, trong khả năng tìm hiểu và tiếp cận của tác giả về một số nghiên cứu và bài báo trên các tạp chí khoa học, hội thảo, kỷ yếu tập trung xoay quanh hai hướng nội dung: (i) vai trò của ngân hàng xanh trong phát triển kinh tế bền vững; (ii) chính sách phát triển tín dụng xanh nói chung và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Theo hướng tiếp cận thứ nhất có thể kể đến: Nghiên cứu về vai trò của “ngân hàng xanh” của Cấn Văn Lực (2016) đã khái quát được mô hình hoạt động năm cấp độ ngân hàng xanh và đưa ra một số chương trình ngân hàng xanh điển hình. Theo Hồ Hạnh Mỹ (2016), chiến lược tăng trưởng xanh tại Việt Nam là phương thức thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế để tiến tới việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững. Bài báo làm rõ những cơ hội và thách thức 8 z trong phát triển tài chính xanh tại Việt Nam và đưa ra một số gợi ý nhằm phát triển hiệu quả tài chính xanh tại Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Với hướng tiếp cận thứ hai được đề cập qua một số nghiên cứu của Nguyễn Hữu Huân (2015), tác giả đã chỉ ra sự quan trọng của nghiệp vụ ngân hàng xanh, tham thảo những kinh nghiệm quốc tế và làm nổi bật những bài học đáng quý cho các hoạt động ngân hàng và sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Bài nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh và Phạm Văn Nghĩa (2015) phân tích những biện pháp kinh tế mà các quốc gia đã triển khai để hỗ trợ tăng trưởng xanh như: hỗ trợ doanh nghiệp, các hình thức thuế, phí môi trường; phát triển thị trường tài chính xanh; hệ thống đặt cọc và hoàn trả, trên cơ sở đó đưa ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam. Trong cùng hướng tiếp cận tương tự có thể kể đến nghiên cứu về Quỹ Uỷ thác tín dụng xanh của Trọng Triết (2015) hay bài viết về chính sách môi trường trong hoạt động ngân hàng thương mại của Trần Thanh Thủy, Nguyễn Hồng Anh và Nguyễn Việt Dũng (2016). Các nghiên cứu trên chủ yếu đều phân tích những biện pháp kinh tế mà các quốc gia đã triển khai để hỗ trợ tăng trưởng xanh (như hỗ trợ doanh nghiệp; các hình thức thuế, phí môi trường; phát triển thị trường tài chính xanh; hệ thống đặt cọc và hoàn trả), trên cơ sở đó đưa ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Hay trong bài nghiên cứu của Đỗ Thị Vân Trang (2015), tác giả đã nghiên cứu những kinh nghiệm phát triển tín dụng xanh ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc và Đức. Từ những khó khăn trong việc áp dụng tín dụng xanh ở Trung Quốc, hoặc những thành công trong việc áp dụng tín dụng xanh ở Hàn Quốc và Đức, nghiên cứu này đã nêu một số các bài học kinh nghiệm từ các nước này cho Việt Nam. 9 z Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phân tích các rào cản trong việc thúc đẩy tín dụng xanh và quản lý các rủi ro môi trường và xã hội tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam vẫn chưa có đề xuất các giải pháp chính sách để hỗ trợ các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại thực hiện tốt hơn mục tiêu thúc đẩy tín dụng xanh và quản lý tốt hơn các rủi ro môi trường – xã hội trong hoạt động cho vay vốn đối với các dự án phát triển. Phần tổng thuật trên đã cho thấy khoảng trống nghiên cứu cho Luận văn về tín dụng xanh và phát triển tín dụng xanh, vốn là một khái niệm đang được quan tâm và cách thực hiện mới không chỉ ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới.
Nội dung của Luận văn nghiên cứu tổng thể về thực tiễn chính sách hỗ trợ phát triển tín dụng xanh từ phía Nhà nước và khuyến nghị cho Việt Nam là một vấn đề mới và mang tính ứng dụng cao trong bối cảnh nước ta hiện nay. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu của Luận văn vừa đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của thực tế, vừa đảm bảo tính mới, tính khoa học cần có của bài nghiên cứu.2 Cơ sở lý luận về tín dụng xanh và phát triển tín dụng xanh tại Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Cơ sở lý luận về tín dụng xanh Trong vài năm gần đây, khi vấn đề về “tăng trưởng xanh – tăng trưởng bền vững” đang trở thành vấn đề được quan tâm tại nhiều quốc gia trên thế giới, “tín dụng xanh” cũng dần trở thành vấn đề cần được chú trọng tại các NHTM. Trước hết, để hiểu rõ hơn về “tín dụng xanh” tác giả xin đề cập đến một số khái niệm liên quan như: 10 z Kinh tế nâu (Brown Economy): Nền kinh tế dựa trên các nguồn năng lương hóa thạch, đã bộc lộ phát thải khí nhà kính, khủng hoảng biến đổi khí hậu, không bảo đảm an ninh năng lượng dẫn đến chiến tranh và xung đột, không bảo đảm an ninh lương thực. Kinh tế xanh (Green Economy): Theo chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2010) định nghĩa “là một nền kinh tế hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống của con người và tài sản xã hội, đồng thời chú trọng giảm thiểu những hiểm họa môi trường và sự khan hiếm tài nguyên”.
Đây được xem là mô hình mới, góp phần giải quyết những thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.