LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành Dƣợc phẩm là ngành kinh tế đặc thù, vừa đóng góp cho phát triển kinh tế, vừa là có vai trò quan trọng trong đảm bảo sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội. Việt Nam là thị trƣờng dƣợc phẩm lớn thứ hai tại Đông Nam Á, với quy mô khoảng 5 tỷ USD, tƣơng đƣơng 0,5% quy mô ngành dƣợc toàn cầu và là một trong những thị trƣờng có tốc độ tăng trƣởng cao nhất với tốc độ tăng trƣờng bình quân giai đoạn 2015-2021 đạt khoảng 7%/năm. Triển vọng ngành dƣợc phẩm Việt Nam đƣợc đánh giá tích cực nhờ sự thay đổi cơ cấu nhân khẩu học (tốc độ già hóa và tốc độ đô thị hóa cao), thu nhập cải thiện và nhu cầu chăm sóc sức khỏe, y tế ngày càng tăng.
Nhu cầu sử dụng và tích trữ thuốc ngày càng gia tăng trong thời gian dịch bệnh Covid-19 diễn ra cũng đã góp phần làm gia tăng , đặc biệt là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh dƣợc phẩm, hoặc là đầu mối phân phối thuốc cho tất cả các khu vực trên cả nƣớc. Để có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng, các tổ chức này cần sử dụng lƣợng vốn lớn, trong đó chủ yếu là nguồn vốn vay tại các TCTD. Theo đó, các TCTD, đặc biệt là các NHTM hiện nay đang rất chú trọng phát triển hoạt động tín dụng ngành Dƣợc phẩm. Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những TCTD lâu đời và có uy tín và giá trị hàng đầu Việt Nam hiện nay với hơn 200 nghìn khách hàng doanh nghiệp trên cả nƣớc.
Tuy nhiên, với sự cạnh tranh gay gắt của các NHTM, kết quả hoạt động tín dụng ngành Dƣợc phẩm tại BIDV chƣa đạt đƣợc kết quả phù hợp với vị thế và tiềm năng phát triển của ngành này. Tính đến 31/12/2021, BIDV chỉ có khoảng gần 1.200 KHDN trong tổng số 43.450 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành Dƣợc phẩm (chiếm 2,07%). Do đó, tiềm năng khai thác phát triển nhóm khách hàng này là rất lớn. Từ thực tế đó tác giả chọn đề tài: “Phát triển hoạt động tín dụng ngành Dược phẩm tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” nhằm đánh giá tiềm năng phát triển, đánh giá 2 thực trạng hoạt động tín dụng ngành Dƣợc phẩm, từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng ngành Dƣợc phẩm tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam.
Tổng quan nghiên cứu Bên cạnh các mảng hoạt động của ngân hàng, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động cốt lõi và cơ bản, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Để nghiên cứu đƣợc rõ ràng sự phát triển hoạt động tín dụng của ngành Dƣợc phẩm, một mặt, cần đánh giá đƣợc thực trạng phát triển hoạt động tín dụng chung của ngân hàng, sau đó là đánh giá từng ngành, lĩnh vực cụ thể để đƣa ra đƣợc định hƣớng cấp tín dụng đối với ngành đó. Từ đó, nghiên cứu, xây dựng các chính sách, các giải pháp để phát triển hoạt động tín dụng của ngành Dƣợc phẩm. Nghiên cứu nước ngoài Các bài nghiên cứu nƣớc ngoài chủ yếu tiếp cận, đánh giá sự phát triển của hoạt động tín dụng ngành Dƣợc phẩm thông qua đánh giá vai trò của World Bank trong việc cam kết tài trợ các nguồn vốn nhằm hỗ trợ phát triển ngành Dƣợc phẩm đối với một số quốc gia kém phát triển trên thế giới.
Việc tài trợ vốn ƣu đãi đã phần nào đem lại ý nghĩa xã hội, hỗ trợ các quốc gia kém phát triển có đƣợc nền dƣợc học hiện đại hơn, văn minh hơn. Falkenberg và Tomson (2000) đƣa ra phân tích đầu tiên về hoạt động của World Bank trong lĩnh vực Dƣợc phẩm. Một trong những mục đích của nghiên cứu của họ là xác định số tiền mà Ngân hàng Thế giới cam kết cho vay trong các lĩnh vực dƣợc phẩm khác nhau. Phân tích đề cập đến việc cho vay theo cam kết (nắm bắt ý định) và dựa trên 77 báo cáo thẩm định của nhân viên từ năm tài chính (FY) 1989 đến FY 1995 mô tả giai đoạn lập kế hoạch của các dự án quốc gia.
Nghiên cứu đã đƣợc thực hiện bằng cách sử dụng bảng câu hỏi đã đƣợc kiểm tra trƣớc do các tác giả phát triển. Các tác giả đã nhấn mạnh một số dự án bao gồm dƣợc phẩm có các hợp phần sau: mua sắm thuốc (90% dự án bao gồm hợp phần này), mua sắm thiết bị thí nghiệm (43%), phần cứng (35%) và phần mềm (34%). Nghiên cứu cũng chỉ ra 3 56% tất cả các dự án trong khu vực châu Phi liên quan đến mua sắm thuốc; và khu vực Châu Phi đã phân bổ trung bình hàng năm 18% trong tổng số khoản cho vay Dƣợc phẩm trong giai đoạn đƣợc phân tích. hạn chế của phân tích bao gồm thực tế là danh mục đƣợc gọi là "thuốc" cũng bao gồm các biện pháp tránh thai và vắc xin hoặc đôi khi còn bao gồm cả vật tƣ y tế, thuốc thử hóa học và thiết bị y tế.
Tất cả những hàng hóa khác nhau này đều đƣợc gộp chung trong báo cáo thẩm định của nhân viên, và không thể tách chúng ra đƣợc. Do đó, cho vay Dƣợc phẩm của các ngân hàng đƣợc đánh giá khá cao. Rosa Rodríguez-Monguió và Juan Rovira (2005) mô tả và phân tích hoạt động cho vay lĩnh vực dƣợc phẩm của Ngân hàng Thế giới trong những năm tài chính 1999 đến năm 2002. Nói một cách dễ hiểu, nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu xem các quốc gia đã vay vốn của Ngân hàng Thế giới để mua dƣợc phẩm và sản phẩm y tế nhƣ thế nào.
Các mục tiêu cụ thể là: (i) ƣớc tính cho vay dƣợc phẩm của Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn tài chính 1999 đến 2002, bằng số liệu tuyệt đối và theo tỷ trọng của tổng mua sắm của Ngân hàng; (ii) mô tả và phân tích hoạt động cho vay dƣợc phẩm theo lĩnh vực, khu vực, quốc gia bên vay và nhà cung cấp, và phƣơng thức mua sắm đƣợc sử dụng; và (iii) xây dựng các khuyến nghị để nâng cao kiến thức về cho vay dƣợc phẩm của Ngân hàng. Cơ sở dữ liệu dự án của Ngân hàng Thế giới là nguồn thông tin về các dự án cho vay đã đƣợc phê duyệt. Cơ sở dữ liệu Kho Kinh doanh (BW) là một kho dữ liệu tích hợp trực tuyến chứa thông tin về các dự án, khoản vay, quỹ ủy thác, ngân sách, chi phí, nguồn nhân lực cũng nhƣ thông tin đồng tài trợ theo các báo cáo đồng tài trợ. Rodrigo Fernandez và Tobias J.
Klinge (2020) đánh giá khả năng để mở rộng tiếp cận tài chính của những nhà cung cấp các sản phẩm liên quan đến sản phẩm thuốc trong đó giải thích vai trò của các nhà thuốc và cửa hàng thuốc tƣ nhân trong chuỗi cung ứng hàng hóa sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình; xác định việc thiếu tiếp cận tài chính hạn chế khả năng đóng góp của họ vào các kết quả y tế nhƣ thế nào và cung cấp một cái nhìn tổng quan về nhu cầu tài chính của họ. Sau đó, bài viết đã trình bày một nghiên cứu điển hình về lập trình ở Nigeria đƣợc thiết kế để 4 giải quyết những nhu cầu nàyvà kết thúc với các khuyến nghị cho lập trình trong tƣơng lai để mở rộng khả năng tiếp cận tài chính của nhóm đối tƣợng trên. Theo báo cáo số liệu, nguồn tài chính chính thức của nhóm đối tƣợng này ở Nigeria chủ yếu là các ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tài chính vi mô. Fidelity Bank đã thiết kế một sản phẩm nhắm mục tiêu đến các hiệu thuốc với sự hợp tác của Hiệp hội Dƣợc sĩ Cộng đồng Nigeria (ACPN) với các khoản thanh toán của họ.
Mô hình đã giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng và giúp hạ giá thành giao dịch. Các ngân hàng đã tiếp tục cho vay lĩnh vực y tế kể từ khi kết thúc dự án, tạo ra một nguồn tài chính bền vững lâu dài cho lĩnh vực dƣợc phẩm. Số lƣợng các khoản vay đã tăng 48% từ năm 2016 (năm cuối cùng của dự án) đến năm 2017 và 25% từ năm 2017 đến năm 2018, với tổng số 2.530 USD đƣợc giải ngân kể từ khi dự án kết thúc. Các ngân hàng sử dụng các công cụ để đánh giá đúng mức độ tín nhiệm của các ứng viên trong lĩnh vực y tế và việc đào tạo cho phép các cán bộ cho vay hiểu đƣợc cấu trúc của khu vực y tế tƣ nhân, nhu cầu tài chính của họ cũng nhƣ các cơ hội và rủi ro khi cho vay đối với các doanh nghiệp dƣợc phẩm.
Nghiên cứu trong nước Khác với các bài nghiên cứu nƣớc ngoài, các tác giả trong nƣớc lại có những đánh giá sự phát triển hoạt động tín dụng theo khía cạnh về chất lƣợng tín dụng, các nhân tố tác động đến sự phát triển của hoạt động tín dụng đối với từng ngành cụ thể: Nguyễn Hồng Trang (2016) đã đánh giá chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Quang Trung. Trong đó, tác giả đã hệ thống hóa một cách cơ bản về bản chất các nghiệp vụ tín dụng, phân tích các nhân tố ảnh hƣởng trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển các nghiệp vụ tín dụng của BIDV Quang Trung. Trên cơ sở đó, tác giả đã đƣa ra hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm phát triển các sản phẩm tín dụng, nâng cao chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung. Dƣơng Thị Hoàn (2020) đã nghiên cứu kinh nghiệm của ngân hàng một số nƣớc khu vực và trên thế giới, đồng thời rút ra bài học trong việc nâng cao chất lƣợng tín dụng nhƣ thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu hay tăng quy mô vốn tự có 5 của các Ngân hàng thƣơng mại dƣới những định hƣớng của ngân hàng trung ƣơng.
Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng chất lƣợng tín dụng của các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2014 - 2018. Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích tác động của các nhân tố đến chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam dựa vào mức độ đánh giá của cán bộ tín dụng tại các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam. Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng của các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần hiện nay định hƣớng đến năm 2030.