Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Giải pháp góp phần phát triển cấp tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch tại tỉnh Lâm Đồng 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng của ngân hàng thương mại 2. Tín dụng ngân hàng 2. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 và Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng được định nghĩa theo nghĩa hẹp là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoản thời gian nhất định với một khoản phí nhất định (Nguyễn Minh Kiều, 2011 Nghiệp vụ ngân hàng, NXB Thống kê). Theo đó, tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Ngày nay, tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Tín dụng xuất phát từ gốc chữ la tinh: Credittum – tức là tin tưởng, tín nhiệm; tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam là quan hệ vay mượn.
Như vậy tín dụng theo nghĩa hẹp được thể hiện qua hoạt động: (i) Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định, giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật như hàng hoá, máy móc, trang thiết bị; (ii) Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời lượng giá trị chuyển giao trong một thời gian nhất định. Sau khi hết hạn sử dụng (theo thỏa thuận) người đi vay phải có nghĩa vụ hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa một bên là ngân hàng và bên kia là các tác nhân (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội.) trong nền kinh tế và ngân hàng xuất hiện với vai trò vừa là người đi vay (huy động vốn) vừa là người cho vay (cấp tín dụng). Phân loại tín dụng ngân hàng 11 Theo Lê Thị Tuyết Hoa & & Nguyễn Thị Nhung (2011 Tiền tệ ngân hàng, NXB Phương Đông), Lê Thị Mận & Lê Đình Hạc (2019) Nghiệp vụ NHTM, NXB Kinh tế TP HCM, Nguyễn Văn Tiến & Cộng sự (2016) Tiền tệ - Ngân hàng và Thị trường tài chính, NXB Lao Động vì ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, đi vay để cho vay, do đó, trong thực tế khi đề cập đến ngân hàng người ta thường xem xét trên góc độ ngân hàng là người cấp tín dụng.
Nếu xem xét ngân hàng theo hướng này thì tín dụng có thể phân thành các loại như sau: Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Chiếu khấu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của giấy nợ trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một giấy nợ chưa đến hạn. Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Cho thuê: là việc ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi (thời hạn khoảng 80-90% đời sống kinh tế của tài sản).
Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó. Căn cứ vào mục đích tín dụng : Tín dụng sản xuất kinh doanh: ngân hàng cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ,… Tín dụng tiêu dùng: ngân hàng cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như mua sắm vật dụng đắt tiền, cho vay để trang trải các chi phí trong đời sống, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng,… Căn cứ vào thời hạn tín dụng : Tùy theo từng quốc gia, quy định thời gian tương ứng với các loại hình tín dụng có thể khác nhau. Cụ thể như sau : 12 Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức tín dụng ngân hàng có thời hạn vay tối đa đến 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn sử dụng chủ yếu để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu của các doanh nghiệp hoặc nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân.
Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng ngân hàng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng ngân hàng với thời hạn trên 5 năm. Cho vay trung và dài hạn nhằm bù đắp thiếu hụt vốn trung dài hạn phục vụ mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng,… Căn cứ vào hình thức bảo đảm tín dụng: Tín dụng không bảo đảm (cho vay tín chấp): Ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở uy tín, tín nhiệm của bản thân khách hàng vay. Người đi vay không cần bất cứ một sự bảo đảm nào bằng tài sản hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Như vậy, người đi vay đã bảo đảm cho khoản tín dụng bằng chính uy tín của mình. Tín dụng có bảo đảm: Ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở phải có sự bảo đảm bằng tài sản của người đi vay hoặc sự bảo lãnh của bên chủ thể thứ ba. Tài sản bảo đảm hoặc chủ thể bảo lãnh trong quan hệ tín dụng chính là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng. Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn có thể phân loại theo các tiêu chí khác như: Căn cứ vào hình thức cấp vốn tín dụng, căn cứ vào phương pháp hoàn trả, căn cứ vào tính chất hoàn trả,.
Phát triển tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch 2. Khái niệm về du lịch, sản phẩm du lịch, doanh nghiệp kinh doanh du lịch Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch do cách tiếp cận khác nhau. Qua nhiều thời kỳ phát triển, khái niệm du lịch đã có những thay đổi để ngày càng phù hợp hơn với sự phát triển của ngành du lịch. Theo Hangiker và Kraff, tại Hội nghị lần V của các nhà khoa học trong lĩnh vực du lịch của thế giới đã phát biểu rằng: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, 13 hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể, nơi họ lưu trú không phải là nơi họ ở thường xuyên và là nơi làm việc để kiếm tiền”.
Theo Luật Du lịch của Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng 6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 khái niệm: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của khách hàng ngày càng cao cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hoá, xã hội, hoạt động du lịch ngày càng đa dạng và phong phú. Du lịch không còn bó hẹp trong hoạt động vui chơi nghỉ dưỡng, mà du lịch còn kết hợp với hội thảo, hội nghị, tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm cơ hội kinh doanh như kết hợp với việc tìm hiểu thị trường, tìm kiếm đối tác, và có một cái nhìn mới hơn về nơi mình đến. Như vậy, có thể xem du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, ngoài ra du lịch còn kết hợp với hội thảo, hội nghị, tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại nơi đến.
*Khái niệm về sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch ngày nay rất đa dạng và phong phú, nó có thể là sản phẩm nhìn thấy được và cũng có thể là sản phẩm không nhìn thấy được. Theo Kotler va Turner (1994) cho rằng: “Một sản phẩm là tất cả những gì có thể cung cấp cho sự chiếm hữu, sự sử dụng hoặc sự tiêu thụ của một thị trường: điều đó bao gồm những vật thể, những khoa học, những nhân vật, những nơi chốn, những tổ chức và những ý tưởng”. Vậy có thể cụ thể hoá sản phẩm du lịch thường bao gồm: nơi lưu trú, điểm du lịch, tuyến du lịch, dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí, mua sắm…Nơi lưu trú ở đây là các khách sạn, nhà nghỉ được đưa vào kinh doanh dưới nhiều hình thức. Nơi lưu trú hiện nay là một trong những vấn đề được các nhà kinh doanh du lịch quan tâm rất nhiều.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp du lịch, nhất thiết cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lưu trú. Nơi lưu trú, có thể 14 hiểu rằng, đó là một địa điểm được xây dựng nhằm mục tiêu phục vụ khách hàng và thu lợi nhuận.