Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI TRONG PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN 1. Nhận thức về quyền con ngƣời 1. Khái niệm quyền con người Trong lời nói đầu của Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948 có nhấn mạnh: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [12]. Thông qua lời nói đầu của tuyên ngôn, quyền con ngƣời đƣợc mặc nhiên hiểu đó là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhƣợng đƣợc của các cá nhân.
Tuyên ngôn không đƣa ra định nghĩa về quyền con ngƣời mà đi thẳng vào nội hàm của quyền con ngƣời trong đó nêu ra những quyền chính trên cơ sở sự đồng thuận của đông đảo các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc. Đối với các nhà nghiên cứu, có một định nghĩa không chính thức nhƣng đƣợc thừa nhận khá rộng rãi đó là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con ngƣời. Theo đó, quyền con ngƣời đƣợc hiểu là: “những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [13, tr. Theo một số giáo trình của Việt Nam, quyền con ngƣời đƣợc tiếp cận dƣới góc độ là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [13, tr 38].
Nhƣ vậy, cả định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con ngƣời và định nghĩa của một số nhà nghiên cứu Việt Nam thì quyền con ngƣời đều đƣợc tiếp cận dƣới góc độ là những quyền tự nhiên, vốn có nhƣng phải đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền con ngƣời là những chuẩn mực đƣợc cộng đồng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con ngƣời và cho tất cả mọi ngƣời. Nhờ những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới đƣợc bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tƣ cách là một con ngƣời.
Đặc trưng và các thế hệ quyền con người 1. Đặc trưng của quyền con người Nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cho rằng, quyền con ngƣời có những đặc trƣng cơ bản sau đây: - Tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con ngƣời là những gì bẩm sinh, vốn có của con ngƣời và đƣợc áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì. Tuy nhiên, cần chú ý là sự bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ, mà là bình đẳng về tƣ cách chủ thể và cơ hội hƣởng thụ các quyền. - Tính không thể chuyển nhượng (inalienable): Thể hiện ở chỗ các quyền con ngƣời không thể bị tƣớc bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả bởi nhà nƣớc.
Mọi giới hạn, hạn chế hay tƣớc bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tƣơng xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác. - Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con ngƣời đều có tầm quan trọng nhƣ nhau, về nguyên tắc không có quyền nào đƣợc coi là có giá trị hơn quyền nào, bởi lẽ việc tƣớc bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con ngƣời. - Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated): Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con ngƣời, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hƣởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác và ngƣợc lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các thế hệ quyền con người Năm 1977, Karel Vasak đƣa ra ý tƣởng về ba “thế hệ nhân quyền” (generations of human rights) nhằm phân tích lịch sử phát triển của quyền con ngƣời [15, tr. Thế hệ thứ nhất, các quyền dân sự, chính trị: Thế hệ quyền con ngƣời này hƣớng vào hai vấn đề chính, đó là tự do và sự tham gia vào đời sống chính trị của các cá nhân. Nó bao gồm các quyền và tự do cá nhân về phƣơng diện dân sự và chính trị; tiêu biểu nhƣ quyền sống, quyền tự do tƣ tƣởng, tự do tôn giáo, tín ngƣỡng, tự do biểu đạt, quyền đƣợc xét xử công bằng.
Thế hệ quyền này gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tƣ sản lật đổ chế độ phong kiến. Những văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời, 1948 và Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966. Thế hệ thứ hai, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: Thế hệ quyền con ngƣời này hƣớng vào việc tạo lập những điều kiện và sự đối xử bình đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội. Chúng đƣợc đề xƣớng và vận động từ cuối thế kỷ XIX, và bắt đầu đƣợc quan tâm bởi một số chính phủ kể từ sau Chiến tranh thế giới I.
Các quyền tiêu biểu thuộc về thế hệ quyền này bao gồm: quyền có việc làm, quyền đƣợc bảo trợ xã hội, quyền đƣợc chăm sóc y tế, quyền có nhà ở.Sự ra đời của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa đầu tiên (nƣớc Nga Xô viết) vào năm 1917 và sau đó là hệ thống các nƣớc xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong nửa sau thế kỷ XX đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình pháp điển hóa thế hệ quyền này trong pháp luật quốc gia và quốc tế. Văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu nhất đề cập đến thế hệ quyền này là Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, 1966. Nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cho rằng, việc hiện thực hóa các quyền dân sự, chính trị là mang tính tức thời (immediate). Bởi vì, trong thực tế việc bảo đảm các quyền này không đòi hỏi phải tiêu tốn nhiều nguồn lực vật chất, do đó bất cứ quốc gia nào, giàu hay nghèo, đều có thể tiến hành đƣợc ngay.
Trong khi đó, việc hiện thực hóa các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa có thể dần dần, từng bƣớc (progress realization) tƣơng ứng với nguồn lực sẵn có của quốc gia. Điều này là bởi trong thực tế việc thực thi các quyền trong nhóm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này đòi hỏi phải tiêu tốn rất nhiều nhân lực, vật lực vƣợt quá khả năng hiện tại của các quốc gia nghèo. Tuy nhiên, cần chú ý là việc hiện thực hóa dần dần, từng bƣớc các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa không có nghĩa là các quốc gia không cần xúc tiến bất cứ kế hoạch hay hành động nào, hoặc không cần đề ra bất cứ mục tiêu, chỉ tiêu hay thời hạn nào cho việc này. Nó đơn thuần chỉ là cho phép các quốc gia thực hiện các quyền này ở mức độ tƣơng ứng với nguồn lực thực tế của nƣớc mình.
Thế hệ thứ ba, các quyền tập thể: Thế hệ quyền này bao gồm các quyền tập thể, tiêu biểu nhƣ quyền tự quyết dân tộc, quyền phát triển, quyền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, quyền đƣợc sống trong hòa bình, quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành.Danh mục các quyền thuộc thế hệ quyền này vẫn đang đƣợc bổ sung, trong đó những quyền đƣợc đề cập gần đây bao gồm: quyền đƣợc thông tin và các quyền về thông tin; quyền đƣợc thụ hƣởng các giá trị văn hóa. Những văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa, 1960; hai công ƣớc cơ bản về nhân quyền năm 1966 là ICCPR và ICESCR; Tuyên bố về quyền của các dân tộc được sống trong hòa bình, 1984; Tuyên bố về quyền phát triển, 1986. Ngoại trừ một số quyền nhƣ quyền tự quyết dân tộc, nhiều quyền trong thế hệ thứ ba chƣa đƣợc pháp điển hóa bằng các điều ƣớc quốc tế, mà chủ yếu mới chỉ đƣợc đề cập trong các tuyên bố, tuyên ngôn (các văn kiện luật mềm - soft law). Vì vậy, tính pháp lý và tính hiện thực của hầu hết các quyền trong thế hệ này vẫn đang là chủ đề gây tranh cãi.
Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự ảnh hƣởng của phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con ngƣời 1. Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Năng lƣợng nói chung và năng lƣợng điện nói riêng là yếu tố đầu vào quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của bất cứ quốc gia nào. Vì vậy, đảm bảo an ninh năng lƣợng là rất cần thiết và cấp bách, đƣợc thực hiện thông qua việc tìm kiếm và đa dạng các nguồn phát năng lƣợng trong đó có năng lƣợng thủy điện. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thuỷ điện là nguồn điện có đƣợc từ năng lƣợng nƣớc.
Đa số năng lƣợng thuỷ điện có đƣợc từ thế năng của nƣớc đƣợc tích tại các đập nƣớc làm quay một tuốc bin nƣớc và phát điện. Thuỷ điện là nguồn năng lƣợng có thể hồi phục. Thuỷ điện, sử dụng động lực hay năng lƣợng dòng chảy của các con sông hiện nay chiếm 20% lƣợng điện của thế giới. Na Uy sản xuất toàn bộ lƣợng điện của mình bằng sức nƣớc, trong khi Iceland sản xuất tới 83% nhu cầu của họ (2004), Áo sản xuất 67% số điện quốc gia bằng sức nƣớc (hơn 70% nhu cầu của họ).
Canada là nƣớc sản xuất điện từ năng lƣợng nƣớc lớn nhất thế giới và lƣợng điện này chiếm hơn 70% tổng lƣợng sản xuất của họ [48]. Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là hạn chế đƣợc giá thành nhiên liệu. Các nhà máy thuỷ điện không phải chịu cảnh tăng giá của nhiên liệu hóa thạch nhƣ dầu mỏ, khí thiên nhiên hay than đá và không cần phải nhập nhiên liệu.