phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề án được chia làm 3 phần: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án Phần 2: Nội dung của đề án Phần 3: Các đề xuất kiến nghị 7 Phần 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thương mại Thương mại là phạm trù kinh tế ra đời và tồn tại gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nền kinh tế hàng hóa. Với tầm quan trọng lớn, thương mại đã được nghiên cứu rộng rãi, vì thế có khá nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại. Theo Hà Văn Sự (2015), thương mại có thể được hiểu theo ba cách tiếp cận khác nhau: thương mại với tư cách là một hoạt động kinh tế, là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội và với tư cách là một ngành kinh tế quốc dân.
+ Nếu xem xét dưới góc độ là một hoạt động kinh tế: thương mại hàng hóa được hiểu là hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận + Nếu xem xét thương mại với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: Sản xuất – Phân phối – Trao đổi – Tiêu dùng, thương mại đóng vai trò là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, là phương tiện mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, khu vực. + Nếu xem xét thương mại với tư cách là một ngành kinh tế. Thương mại là một ngành đảm nhận chức năng tổ chúc lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ cho xã hội thông qua việc thực hiện mua bán nhằm sinh lợi. Theo Luật thương mại của Việt Nam năm 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Tóm lại, thương mại là tổng thể các hiện tượng, các hoạt động và các quan hệ kinh tế gắn liền và phát sinh cùng với trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận 1. Khái niệm thương mại hàng hóa 8 Thương mại hàng hóa là một bộ phận của thương mại, nhưng thuộc ngành hoặc lĩnh vực dịch vụ phân phối. Thương mại hàng hóa là lĩnh vực trao đổi hàng hóa hữu hình, bao gồm tổng thể các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động hỗ trợ của các chủ thể kinh tế nhằm thúc đẩy quá trình trao đổi đó diễn ra theo mục tiêu đã xác định. Đó là hình thức hoạt động kinh tế của các chủ thể người bán và người mua.
Khái niệm phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp Theo Hà Văn Sự (2005), “Phát triển thương mại là quá trình bao gồm nhiều hoạt động nhằm tạo ra sự thay đổi cả về lượng và chất, sự tăng trưởng thương mại của quốc gia trong từng giai đoạn phát triển. Phát triển thương mại hướng tới sự hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, tức là nhằm tới sự bền vững”. Từ khái niệm trên, có thể hiểu được rằng, phát triển thương mại là sự gia tăng về mọi mặt của hoạt động thương mại, thể hiện ở sự gia tăng về số lượng – quy mô, tốc độ; sự dịch chuyển về cơ cấu thương mại hàng hóa, dịch vụ và nâng cao về chất lượng của thương mại trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Mục đích cuối cùng của phát triển thương mại là không ngừng gia tăng lợi ích từ các hoạt động thương mại.
Trong đề án này, khái niệm phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp được hiểu là việc doanh nghiệp nỗ lực tiến hành các biện pháp cần thiết để thúc đẩy việc gia tăng số lượng sản phẩm được sản xuất và trao đổi, mua bán; ngày càng nâng cao chất lượng của sản phẩm; đa dạng hóa về sản phẩm, mẫu mã, bao bì, cách thức đóng gói sản phẩm nhằm khai thác tất cả các tiềm năng và tận dụng mọi cơ hội về thương mại và đạt hiệu quả bền vững trong phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp. Tùy theo điều kiện kinh tế của doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể, có thể quyết định cách thức phát triển thương mại khác nhau. Mỗi cách thức có thể được hiểu là sự huy động, phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp cho lĩnh vực thương mại, cụ thể như sau: 9 Thứ nhất, phát triển thương mại theo quy mô: mở rộng quy mô sản xuất sản phẩm, mở rộng thị trường cho sản phẩm, gia tăng mức độ trao đổi hàng hóa trên thị trường, thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, phát triển cơ sở hạ tầng thương mại cho sản phẩm của doanh nghiệp. Thứ hai, kết hợp giữa phát triển thương mại theo quy mô với chất lượng, hiệu quả, chuyển đổi mô hình tăng trưởng thương mại chủ yếu phát triển theo quy mô sang phát triển hợp lý giữa quy mô và chất lượng, hiệu quả, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững.
Thứ ba, tập trung nguồn lực để phát triển thương mại theo chất lượng, hiệu quả là chủ yếu, đó là nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng đối với các hoạt động thương mại, chuyển dịch cơ cấu thương mại sản phẩm theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đảm bảo sản phẩm đa dạng về mẫu mã, chất lượng, giá thành hợp lý, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường. (*) Mục tiêu phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp Dựa trên khái niệm và cách thức phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp, có thể thấy một số mục tiêu của doanh nghiệp khi phát triển thương mại sản phẩm như sau: Thứ nhất, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tận dụng các chính sách của Nhà nước, đảm bảo hoạt động thương mại của doanh nghiệp thực hiện đúng theo pháp luật của Nhà nước và các cam kết quốc tế. + Đảm bảo tuân thủ các quy định về nhãn, mác hàng hóa, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, tuân thủ các quy định về truyền thông quảng cáo, thông tin thị trường. + Tận dụng các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thương mại của Nhà nước nhằm phát triển thương mại sản phẩm cho doanh nghiệp; hoàn thiện cơ sở hạ tầng thương mại của doanh nghiệp bằng cách tận dụng các lợi thế về công nghệ, hoàn hiện website giới thiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại điện tử; 10 + Hoàn thiện chuỗi cung ứng theo hướng phát triển hệ thống phân phối xanh, bền vững, thúc đẩy sự tham gia của các sản phẩm dán nhãn sinh thái, thân thiện với môi trường trong hệ thống phân phối; + Kiểm soát nguồn cung ứng nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất.
Thứ hai, tăng cường xúc tiến thương mại, đẩy mạnh hoạt động của chuỗi cung ứng, gắn kết lưu thông với sản xuất. + Xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp; + Sử dụng đa dạng các hình thức xúc tiến thương mại như quảng cáo, website, hội chợ, triển lãm. + Xây dựng hệ thống chỉ dẫn địa lý, ứng dụng công nghệ QR code, data Matrix, RFID đối với sản phẩm, hàng hóa tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm trong nước; nghiên cứu, phát triển và đưa vào triển khai mô hình chuỗi cung ứng thông minh, vận dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big data) để dự báo thị trường và gắn kết hiệu quả các quá trình sản xuất với nhu cầu thị trường. + Khảo sát, đánh giá thực trạng và triển khai giải pháp phát triển hệ thống phân phối xanh và tiêu dùng xanh, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực thương mại; đẩy mạnh liên kết bền vững giữa sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng cũng như tăng sự hiện diện của sản phẩm được dán nhãn sinh thái, thân thiện môi trường xanh tại cơ sở phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị.) và cơ sở phân phối truyền thống (chợ, cửa hàng tạp hóa.) Thứ ba, phát triển thương mại điện tử, các loại hình thương mại dựa trên số hóa Thứ tư, phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ năm, đẩy mạnh công tác thu thập thông tin, dự báo xu hướng thị trường. Thứ sáu, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp. 11 (*) Những nguyên tắc phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp Một là, phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp phải dựa trên quan điểm, đường lối phát triển của Nhà nước, thực hiện đúng các quy định pháp luật về phát triển thương mại. Cũng như các lĩnh vực khác, việc phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp cũng chịu sự tác động của các chủ trương, chính sách phát triển của Nhà nước.
Các doanh nghiệp kinh doanh thương mại phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước như: Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại, Luật Phá sản. để đảm bảo cạnh tranh công bằng, bình ổn kinh tế. Đó là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp làm căn cứ cho định hướng phát triển của doanh nghiệp, tránh rủi ro, thất bị không đáng có trên thị trường. Các chính sách của Nhà nước có thể kìm hãm hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp.
Vì vậy, các doanh nghiệp nên đề ra chiến lược phát triển dựa trên đường lối của Nhà nước. Hai là, phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp phải tuân thủ các quy luật, cơ chế thị trường. Các quy luật, cơ chế thị trường là nguyên tắc chi phối mọi hoạt động phát triển thương mại nói chung và phát triển thương mại sản phẩm của doanh nghiệp nói riêng. Cụ thể, đối với quy luật giá trị thì sự vận động của giá cả sản phẩm luôn luôn phải xoay quanh giá trị của chính nó, không thể tách rời một cách vô hạn.
Đồng thời, giá cả sản phẩm trên thị trường luôn gắn chặt với quy luật cung cầu: giá cả tương xứng với giá trị ở điểm cân bằng cung cầu và lớn hơn giá trị khi cung nhỏ hơn cầu và thấp hơn giá trị khi cung lớn hơn cầu. Như vậy, nếu doanh nghiệp nắm bắt được quy luật, cơ chế thị trường thì việc tổ chức hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn và có chất lượng, hiệu quả phát triển hơn. Ba là, phát triển thương mại sản phẩm dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn luôn đối mặt với vấn đề khan hiếm về nguồn lực và sự lựa chọn giữa các chi phí cơ hội.