Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 56 01) với đề tài "Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Như thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đoàn Ngọc Hải.
Về tính cấp thiết, thủ công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp với nông nghiệp tạo thành cấu trúc kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm và lưu giữ bản sắc văn hóa. Tỉnh Bắc Ninh có lịch sử thủ công nghiệp lâu đời với các làng nghề danh tiếng như dệt tơ tằm Nội Duệ, chạm gỗ Phù Khê, tranh dân gian Đông Hồ, gốm sứ Phù Lãng. Sau khi tái lập tỉnh năm 1997, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp quy hoạch không gian, xây dựng hạ tầng, đào tạo nghề và mở rộng làng nghề. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn bộc lộ những hạn chế: chính sách chưa đồng bộ, thiếu chế tài cụ thể, mối quan hệ giữa thủ công nghiệp và các ngành kinh tế khác chưa được xử lý triệt để, tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề gia tăng. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là trước đó chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về chủ trương, chính sách và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với phát triển thủ công nghiệp từ góc độ khoa học Lịch sử Đảng.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012; đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và đúc rút bài học kinh nghiệm vận dụng vào thực tiễn.
Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ yêu cầu khách quan đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về thủ công nghiệp trong 15 năm (1997 - 2012).
- Phân tích, luận giải, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo phát triển thủ công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2012.
- Nhận xét kết quả hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012, đúc rút kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Đảng bộ các địa phương trong tỉnh về phát triển thủ công nghiệp mà hạt nhân là các làng nghề thủ công, thông qua hệ thống văn kiện, nghị quyết của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1997 (khi Bắc Ninh tái lập tỉnh) đến năm 2012; có sử dụng một số tư liệu trước năm 1997 và sau năm 2012 để bảo đảm tính hệ thống.
- Phạm vi không gian: Địa bàn các thôn, xã (phường), huyện (thị xã, thành phố) có nghề thủ công và làng nghề truyền thống thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu được luận án hệ thống hóa theo các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
Nhóm nghiên cứu ở nước ngoài và công trình quốc tế về thủ công nghiệp Việt Nam:
- Đặng Nguyên Anh Celia và Hoàng Xuân Thành (2004) với ấn phẩm "Stay on the farm, weave in the village leave the home (ly nông bất ly hương, làm thủ công tại làng)" nghiên cứu chuyển dịch sinh kế tại nông thôn.
- Sango Mahanty và Trung Đinh Dang với bài báo "Protecting the water commons in vietnams craft villages" (Trường Đại học Quốc gia Australia) khảo sát 3 làng nghề ở đồng bằng sông Hồng gồm dệt Dương Nội, lụa Nha Xá và giấy Phong Khê, phân tích nguồn gốc ô nhiễm từ khía cạnh chính trị, xã hội và chính sách.
- Fanchette S. (2007) với công trình "The development process of craft and industrial village (CIV) clusters in Hà Tây and Bắc Ninh province (Vietnam): from village initiatives to public policies" phân tích sự kết hợp giữa sáng kiến tự thân của người dân và chính sách công của Nhà nước tại Hà Tây và Bắc Ninh.
Nhóm công trình trong nước về làng nghề và thủ công nghiệp truyền thống:
- Các nghiên cứu lịch sử và văn hóa làng nghề của Bùi Văn Vượng (Làng nghề thủ công truyền thống; Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển), Vũ Từ Trang (Nghề cổ truyền nước Việt), Đỗ Thị Hảo (Nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam và các vị tổ nghề), Nguyễn Hữu Thông (Huế nghề và làng nghề thủ công truyền thống), Lê Nguyễn Lưu (Làng nghề cổ truyền xứ Huế), Bùi Quốc Tuấn và Nguyễn Vi Khải.
- Các nghiên cứu về kinh tế, thị trường và môi trường làng nghề: Dương Bá Phượng (Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa), Trần Văn Chử (Phát triển thị trường cho làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay), Đặng Kim Chi (Làng nghề Việt Nam và môi trường), Bạch Thị Lan Anh, Nguyễn Hữu Khải, Nguyễn Hữu Lực, Nguyễn Thị Liên Hương, Nguyễn Vĩnh Thanh.
Nhóm công trình về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thủ công nghiệp và công nghiệp địa phương:
- Các đề tài của Bộ Thương mại do Trần Công Sách chủ trì (Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010), Nguyễn Cúc (Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đến năm 2005), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.
- Các luận văn, luận án chuyên ngành Lịch sử Đảng về các địa phương: Vũ Mạnh Thìn (tỉnh Hải Dương), Đỗ Minh Tứ (tỉnh Bình Dương), Trần Thị Anh Trúc (tỉnh Hà Tĩnh).
Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về tỉnh Bắc Ninh:
- Nghiên cứu thực trạng làng nghề Bắc Ninh: Lê Đình Thắng (Phát triển vùng làng nghề truyền thống ở Hà Bắc), Nguyễn Gia Thiệu (Khả năng mở rộng thị trường của các doanh nghiệp nhỏ gia đình - khảo sát hộ làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh), Nguyễn Xuân Hoản (Cụm công nghiệp làng nghề Đồng Kỵ: Lịch sử và hiện trạng; Công nghiệp hóa nông thôn thông qua phát triển các cụm công nghiệp làng nghề), Chu Hữu Luân, Nguyễn Duy Hà, Lê Văn Hương, Phan Trung Chính, Nguyễn Thế Thư.
- Nghiên cứu về chính sách và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh: Nguyễn Như Chung (Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến 2003, Thực trạng kinh nghiệm và giải pháp), Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh 1926-2008), Bùi Vĩnh Kiên, Nguyễn Hữu Loan, Nguyễn Mai Hương, Nguyễn Việt Sáng, Vương Văn Điểm.
- Các luận văn Lịch sử Đảng liên quan: Nguyễn Thùy Dung (2009) về Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương (1997-2007); Đỗ Minh Yến (2009) về Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1997-2006); Nguyễn Thị Thanh Huyền về phát triển khu công nghiệp (2000-2010).
Khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình đã công bố tiếp cận thủ công nghiệp Bắc Ninh từ góc độ kinh tế, xã hội, môi trường hoặc địa lý, hoặc chỉ khảo sát công nghiệp địa phương và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung. Chưa có công trình khoa học lịch sử nào tái hiện toàn diện và có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh ban hành chủ trương, hoạch định giải pháp và tổ chức chỉ đạo phát triển thủ công nghiệp xuyên suốt giai đoạn từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2012.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế, vị trí của công nghiệp nông thôn, kinh tế tư nhân và thủ công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nguồn tư liệu sử dụng bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về kinh tế và quy luật phát triển xã hội.
- Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các sắc lệnh, văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ (1997 - 2012).
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh.
- Báo cáo định kỳ và chuyên đề của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, các Sở, Ban, Ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố.
- Số liệu thống kê chính thức từ Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh và Tổng cục Thống kê.
- Tư liệu điều tra xã hội học và khảo sát thực tế do tác giả thực hiện qua bảng hỏi tại các làng nghề thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh vào năm 2012.
- Các chuyên luận, công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp chặt chẽ giữa lịch sử và logic để làm rõ quá trình vận động thực tế của sự lãnh đạo.
- Phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu tư liệu, phương pháp thống kê kinh tế, khảo sát thực địa và điều tra qua bảng hỏi nhằm xử lý dữ liệu định tính và định lượng phục vụ việc phục dựng tiến trình lịch sử khách quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này phân tích và đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến thủ công nghiệp và sự lãnh đạo của Đảng đối với thủ công nghiệp, chia thành ba nhóm tư liệu chính:
- Nhóm các công trình nghiên cứu chung ở nước ngoài và trong nước về lịch sử làng nghề, kinh tế làng nghề, bảo tồn văn hóa và môi trường.
- Nhóm các công trình nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với phát triển thủ công nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp hóa nông thôn.
- Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về thủ công nghiệp, làng nghề và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh.
Chương 1 khẳng định những thành quả khoa học của các tác giả đi trước về lý luận làng nghề, thực trạng sản xuất và đề xuất giải pháp, đồng thời xác định rõ những nội dung luận án cần tập trung giải quyết: phân tích các nhân tố tác động; luận giải quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2012; đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển thủ công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2005
Chương 2 trình bày các nhân tố khách quan, chủ trương của Trung ương, quá trình hình thành đường lối và công tác chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 1997 - 2005:
Về nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội:
- Bắc Ninh có vị trí địa lý thuận lợi thuộc vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; mạng lưới sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình và sông Ngũ Huyện Khê (dài 48,4 km qua xã Phong Khê) phục vụ giao thông thủy và nguồn nước.
- Dân số hơn 1 triệu người, diện tích 803,87 km², tỷ lệ dân nông thôn chiếm 76,4%, thành thị chiếm 23,6%. Mật độ dân số trung bình 1.248 người/km²; tại các xã làng nghề mật độ rất cao: Văn Môn đạt 2.015 người/km², Phong Khê đạt 11.290 người/km². Tỷ lệ lao động có trình độ sơ cấp, học nghề trở lên đạt 22,9%; công nhân kỹ thuật có bằng là 14,6%. Toàn Đảng bộ có trên 3 vạn đảng viên.
- Thực trạng xuất phát điểm năm 1996 - 1997: Nông nghiệp chiếm 46,4%, dịch vụ chiếm 29,5%, công nghiệp - xây dựng chiếm 24,1%. Công nghiệp quốc doanh địa phương chỉ chiếm 1,8% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh; GDP bình quân đầu người năm 1996 bằng 56,2% mức bình quân cả nước; kim ngạch xuất khẩu đạt 13,5 USD/người (bình quân cả nước 100 USD/người). Toàn tỉnh có 87 doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH.
Số lượng và cơ cấu làng nghề Bắc Ninh năm 1998:
| STT |
Huyện, thị xã |
Số làng nghề |
Thủy sản |
Công nghiệp chế biến |
Xây dựng |
Thương mại |
Vận tải thủy |
| 1 |
Từ Sơn |
18 |
0 |
14 |
1 |
2 |
1 |
| 2 |
Tiên Du |
4 |
0 |
2 |
1 |
1 |
0 |
| 3 |
Yên Phong |
16 |
0 |
14 |
1 |
1 |
0 |
| 4 |
Quế Võ |
5 |
0 |
5 |
0 |
0 |
0 |
| 5 |
Thuận Thành |
5 |
0 |
1 |
3 |
1 |
0 |
| 6 |
Gia Bình |
8 |
0 |
8 |
0 |
0 |
0 |
| 7 |
Lương Tài |
6 |
1 |
5 |
0 |
0 |
0 |
| Tổng |
Toàn tỉnh |
58 |
1 |
49 |
6 |
5 |
1 |
(Nguồn: Sở Công thương Bắc Ninh, 1998, trích trong luận án)
Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam:
Nghị quyết Đại hội VIII (1996), Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII, Nghị quyết số 05 Trung ương 6 lần 1 khóa VIII (1998), Nghị quyết Đại hội IX (2001) và Nghị quyết số 14 Trung ương 5 khóa IX (2002) về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo hành lang chính trị và pháp lý cho phát triển ngành nghề nông thôn.
Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh:
- Giai đoạn 1997 - 2000: Xác định khôi phục làng nghề truyền thống và nhân cấy nghề mới nhằm giải quyết việc làm cho 35.000 lao động tại chỗ; ban hành các văn bản tháo gỡ khó khăn về mặt bằng và vốn.
- Giai đoạn 2001 - 2005: Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI xác định phát triển mạnh thủ công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa nông thôn.
- Các nội dung chỉ đạo thực tiễn: Chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng (điện lưới 100% số xã, đường giao thông nông thôn bê tông hóa 20% thôn xóm, mạng lưới viễn thông 0,67 máy điện thoại/100 dân); chỉ đạo đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng cho lao động; chỉ đạo cải cách thủ tục hành chính, thu hút vốn; chỉ đạo quy hoạch và giao đất tạo mặt bằng sản xuất cho các hộ làm nghề tách khỏi khu dân cư thông qua các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển thủ công nghiệp từ năm 2005 đến năm 2012
Chương 3 luận giải sự chuyển hướng lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và các áp lực môi trường:
- Bối cảnh mới: Tác động từ quá trình đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp, yêu cầu cạnh tranh khi Việt Nam gia nhập WTO, nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí nghiêm trọng tại các làng nghề đúc đồng, tái chế sắt thép, sản xuất giấy.
- Chủ trương của Đảng bộ tỉnh: Rà soát, điều chỉnh cơ chế chính sách phát triển thủ công nghiệp theo chiều sâu, gắn phát triển nghề với tiêu chí xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững.
- Công tác chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ tỉnh:
- Chỉ đạo phân loại và đổi mới chính sách theo từng nhóm ngành nghề thủ công (nhóm nghề truyền thống có giá trị văn hóa như tranh Đông Hồ, gốm Phù Lãng; nhóm nghề tiểu thủ công nghiệp quy mô lớn như sắt Đa Hội, gỗ Đồng Kỵ, giấy Phong Khê, đồng Đại Bái).
- Chỉ đạo mở rộng thị trường, hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và kết nối du lịch làng nghề với các lễ hội văn hóa (Hội Lim, Đền Đô, Chùa Dâu, Đền Bà Chúa Kho).
- Chỉ đạo xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề: Quy hoạch di dời cơ sở gây ô nhiễm nặng vào cụm công nghiệp tập trung, đầu tư hạ tầng xử lý chất thải và nước thải.
- Chỉ đạo huy động nguồn vốn tín dụng, quỹ khuyến công và tiếp tục đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết thành tựu, chỉ rõ hạn chế và đúc kết bốn bài học kinh nghiệm lịch sử:
Thành tựu và hạn chế:
- Thành tựu: Đảng bộ tỉnh đã kịp thời ban hành các nghị quyết sát hợp tình hình thực tế sau tái lập tỉnh; chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp thuần túy sang ngành nghề phi nông nghiệp; phát triển mở rộng số lượng làng nghề và cụm công nghiệp - làng nghề; gia tăng giá trị sản xuất và kim ngạch xuất khẩu tiểu thủ công nghiệp; cải thiện thu nhập và đời sống nhân dân.
- Hạn chế: Công tác quy hoạch mặt bằng sản xuất và cụm công nghiệp làng nghề ở một số nơi còn chậm và thiếu đồng bộ; xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề chưa triệt để; trình độ công nghệ, thiết bị và mẫu mã sản phẩm của nhiều cơ sở chậm đổi mới; cơ chế hỗ trợ tiếp cận vốn và thương hiệu sản phẩm còn vướng mắc.
Bốn bài học kinh nghiệm:
- Phát triển thủ công nghiệp theo lộ trình "thí điểm trước áp dụng rộng rãi sau", bảo đảm tính vững chắc trong từng bước đi chính sách.
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tự chủ của các tổ chức đảng cơ sở trong lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp tại địa phương.
- Chọn hướng đi đúng, phát huy tối đa mọi nguồn lực nội tại và bên ngoài để phát triển thủ công nghiệp địa phương.
- Phát triển thủ công nghiệp gắn kết chặt chẽ với phát triển các ngành kinh tế khác, chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái và bảo đảm phát triển làng nghề bền vững.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa một cách toàn diện chủ trương, cơ chế chính sách và sự chỉ đạo của một Đảng bộ cấp tỉnh (Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh) đối với lĩnh vực thủ công nghiệp trong 15 năm đầu sau khi tái lập tỉnh (1997 - 2012).
- Góp phần tổng kết thực tiễn hoạt động lãnh đạo kinh tế của Đảng ở cấp địa phương, làm phong phú thêm kho tàng nghiên cứu lịch sử lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn của toàn Đảng.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh lịch sử chân thực, khách quan về quá trình phát triển thủ công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh qua các giai đoạn 1997 - 2005 và 2005 - 2012.
- Đánh giá khách quan các ưu điểm, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo quản lý; rút ra 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và các địa phương có mật độ làng nghề cao trong quá trình quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường làng nghề hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh thông qua hệ thống văn kiện, nghị quyết và công tác chỉ đạo thực tế đối với các làng nghề thủ công trên địa bàn từ năm 1997 đến năm 2012.
- Do tiếp cận dưới chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, công trình tập trung vào tiến trình lịch sử, sự chỉ đạo chính trị và cơ chế chính sách, chưa đi sâu vào phân tích các chỉ số kỹ thuật chuyên sâu về kinh tế vi mô, kỹ thuật xử lý môi trường hay chuỗi cung ứng thương mại quốc tế của từng mặt hàng thủ công cụ thể.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, khảo sát sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với thủ công nghiệp và làng nghề trong giai đoạn từ sau năm 2012 đến nay, đặc biệt trong bối cảnh Bắc Ninh đẩy mạnh phát triển công nghiệp công nghệ cao và xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình lãnh đạo phát triển làng nghề giữa Bắc Ninh với các tỉnh có đặc điểm tương đồng trong vùng đồng bằng sông Hồng như Hà Tây (cũ), Nam Định, Hải Dương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Kinh tế phát triển: Cung cấp tư liệu hệ thống về lịch sử kinh tế địa phương và sự vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào thực tiễn cơ sở.
- Đối với cơ quan nghiên cứu và biên soạn lịch sử: Là nguồn tư liệu tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn và bổ sung Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, lịch sử các Đảng bộ huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh giai đoạn sau tái lập tỉnh.
- Đối với cấp ủy, chính quyền và các nhà hoạch định chính sách địa phương: Cung cấp các luận cứ lịch sử và bài học kinh nghiệm thực tiễn về quy hoạch không gian làng nghề, giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế thủ công nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Xuất phát điểm kinh tế và thực trạng thủ công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh khi tái lập tỉnh năm 1997 như thế nào?
Tại thời điểm tái lập tỉnh năm 1997, Bắc Ninh có điểm xuất phát thấp: nông nghiệp chiếm 46,4% cơ cấu kinh tế; GDP bình quân đầu người năm 1996 chỉ bằng 56,2% mức bình quân chung của cả nước; kim ngạch xuất khẩu đạt 13,5 USD/người (so với mức 100 USD/người của cả nước); công nghiệp quốc doanh địa phương chỉ chiếm 1,8% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Thủ công nghiệp quy mô nhỏ bé, manh mún, thiếu vốn, mặt bằng chật hẹp, kỹ thuật lạc hậu và mẫu mã đơn điệu.
2. Số lượng và sự phân bố các làng nghề tại Bắc Ninh theo thống kê năm 1998 ra sao?
Theo số liệu của Sở Công thương Bắc Ninh năm 1998, toàn tỉnh có 58 làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Trong đó, ngành chế biến chiếm ưu thế tuyệt đối với 49 làng nghề, ngành xây dựng có 6 làng nghề, ngành thương mại có 5 làng nghề, ngành vận tải thủy và nuôi trồng thủy sản mỗi ngành có 1 làng nghề. Các địa phương tập trung mật độ làng nghề cao nhất gồm huyện Từ Sơn (18 làng nghề), huyện Yên Phong (16 làng nghề) và huyện Gia Bình (8 làng nghề).
3. Mật độ dân số tại các địa bàn làng nghề thủ công của Bắc Ninh có đặc điểm gì nổi bật?
Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh Bắc Ninh là 1.248 người/km². Tuy nhiên, tại các xã làng nghề phát triển mạnh, mật độ dân số tập trung ở mức rất cao: xã Văn Môn (huyện Yên Phong - nghề đúc kim loại) đạt 2.015 người/km²; xã Phong Khê (huyện Yên Phong/thành phố Bắc Ninh - nghề làm giấy) đạt 11.290 người/km², tạo sức ép lớn về diện tích mặt bằng sản xuất và ô nhiễm môi trường.
4. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử nào trong lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp?
Luận án đúc kết 4 bài học kinh nghiệm:
- Thực hiện phát triển thủ công nghiệp theo lộ trình "thí điểm trước áp dụng rộng rãi sau".
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm và tính tự chủ của các tổ chức đảng cơ sở.
- Lựa chọn đúng hướng đi và huy động tối đa các nguồn lực phát triển thủ công nghiệp.
- Gắn kết phát triển thủ công nghiệp với các ngành kinh tế khác, bảo vệ môi trường sinh thái và hướng tới phát triển làng nghề bền vững.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Như là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tái hiện một cách hệ thống và khách quan quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2012. Công trình đã làm rõ các chủ trương, biện pháp chỉ đạo thực tiễn của Tỉnh ủy Bắc Ninh qua hai giai đoạn lịch sử gắn liền với bước chuyển đổi kinh tế - xã hội của tỉnh sau ngày tái lập. Những thành tựu, hạn chế và bốn bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết mang giá trị khoa học lịch sử và cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, phát triển kinh tế làng nghề bền vững hiện nay.