CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỂ CHẾ GIAO DỊCH NÔNG SẢN 1. Khái niệm, bản chất và nội dung của giao dịch nông sản và thể chế giao dịch nông sản 1. Khái niệm thị trường và thị trường nông sản Thị trường được hiểu là nơi người mua và người bán (hay người có nhu cầu và người cung cấp) tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa vật phẩm hay dịch vụ. Với nghĩa hẹp, thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó như thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán, thị trường vốn.
Cũng có một nghĩa hẹp khác, thị trường là một nơi xác định nào đó, diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa vật phẩm hay dịch vụ như chợ, siêu thị, trung tâm thương mại hoặc thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, thị trường Hà Nội. Trong kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, khái niệm thị trường được hiểu rộng hơn là tập hợp các thỏa thuận mà người mua và người bán trao đổi được các hàng hóa vật phẩm hoặc dịch vụ cho nhau. Các thỏa thuận bao gồm giá cả, số lượng, chất lượng hàng hóa vật phẩm hay dịch vụ, phương thức thanh toán và giao hàng. Thị trường ra đời gắn liền với sự ra đời và phát triển sản xuất hàng hóa.
Đầu tiên là sự trao đổi hiện vật, sau này, khi tiền tệ ra đời, tiền tệ giữ chức năng định giá cho mọi hàng hóa vật phẩm hay dịch vụ trao đổi trên thị trường. Kết thúc mỗi cuộc trao đổi dù bằng hiện vật hoặc bằng tiền tệ đều là chuyển giao quyền sở hữu từ người chủ này sang người chủ khác với một giá nhất định. Nông sản, theo cách hiểu hiện nay, là những sản phẩm trực tiếp do sản xuất nông nghiệp tạo ra có thể nằm dưới dạng thô chưa qua bất kỳ công đoạn chế biến nào như rau quả, hoặc chỉ mới qua sơ chế mà tính chất bên trong của sản phẩm chưa thay đổi như lúa được chế biến thành gạo. Tóm lại, thị trường nông sản là tập hợp các thỏa thuận, dựa vào đó người mua và người bán trao đổi được các hàng hóa nông sản.
Khái niệm giao dịch và giao dịch nông sản Theo Philip Kotler, “giao dịch (transaction)( 1) là việc mua bán giữa hai bên liên quan đến ít nhất là hai thứ có giá trị, những điều kiện được thỏa thuận, thời điểm thỏa thuận, và nơi chốn thỏa thuận” [21]. Hai thứ có giá trị đó có thể là hai hàng hóa được trao đổi với nhau, hoặc một bên là hàng hóa và một bên là thước đo giá trị như tiền, vàng, kim loại quý khác. Thị trường nông sản cũng là nơi diễn ra hoạt động trao đổi hàng hóa nông sản giữa tập hợp người bán và tập hợp người mua. Hoạt động trao đổi này được xem là hoạt động giao dịch nông sản.
Theo Hoàng Đức Thân (2006), giao dịch nông sản là một dạng hành vi kinh tế để chỉ các hành động tiếp xúc, thương lượng, trao đổi một loại hàng hóa nông sản nào đó về chất lượng, giá cả và các điều kiện thanh toán liên quan đến việc mua bán nông sản đó [35]. Theo Hoàng Đức Thân (2006) và theo nghiên cứu của tác giả, bản chất của giao dịch nông sản được khái quát như sau: Thứ nhất, chủ thể là các nhà kinh doanh nông sản [35]. Theo Điều 4, Luật doanh nghiệp năm 2005, “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [31]. Do đó, chủ thể kinh doanh bao gồm nông dân mang nông sản hàng hóa bán ra thị trường, các nhà buôn bán nông sản, người cung ứng dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh nông sản và nhà sản xuất – chế biến nông sản.
Thứ hai, giao dịch nông sản là một quá trình thương lượng chuyển giao quyền sở hữu nông sản hàng hóa từ chủ thể này sang chủ thể khác [35]. Quyền sở hữu được hiểu theo Bộ Luật dân sự ngày 14/6/2005: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” [30]. Các thành tố trong quá trình thương lượng bao gồm giá cả, số (1) Trong đề tài, tác giả sử dụng một số thuật ngữ bằng tiếng Anh nhằm giúp người đọc dễ dàng tra cứu, tham khảo, so sánh đối chiếu các tài liệu bằng tiếng Anh của các học giả nước ngoài (Xem Phụ lục 22). 123doc 15 lượng, chất lượng nông sản, thời điểm và địa điểm thương lượng, thời điểm và địa điểm giao nhận hàng hóa, thời điểm và điều kiện thanh toán, thương lượng trực tiếp hay qua trung gian, các điều kiện đảm bảo việc thực hiện hợp đồng.
Thứ ba, giao dịch nông sản phụ thuộc vào điều kiện môi trường nhất định. Môi trường kinh doanh khác nhau sẽ tác động đến quá trình thương lượng giữa các chủ thể kinh doanh. Ví dụ, nông dân sản xuất hàng hóa lớn thì thường có xu hướng thực hiện thương lượng trực tiếp với nhà chế biến mà không cần thiết thương lượng với người mua buôn. Như vậy, giao dịch nông sản là quá trình thương lượng giữa các chủ thể kinh doanh để chuyển giao quyền sở hữu đối với nông sản trong điều kiện nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu của bên giao và bên nhận quyền sở hữu.
Xuất phát từ khái niệm này, người ta có nhiều cách phân loại các hình thức giao dịch nông sản khác nhau. Luận án tập trung vào phân tích các hoạt động giao dịch nông sản giữa người sản xuất với người mua. Hay nói theo quan điểm của quản trị chiến lược là cơ chế điều phối theo ngành dọc của người sản xuất với người mua. Đây là cách phân loại dựa trên bản chất kinh tế - xã hội của hoạt động giao dịch nông sản.
Do đó, luận án chia các hình thức giao dịch nông sản như sau: giao dịch giao ngay (spot transaction), giao dịch sản xuất theo hợp đồng (contract farming transaction) và giao dịch giao sau. Những khái niệm này sẽ được làm rõ ở phần sau. Khái niệm thể chế, thể chế kinh tế và thể chế giao dịch nông sản Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt” năm 2008 của Trung tâm từ điển học, “thể chế (Institution) là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo” [41]. Khái niệm học thuật về thể chế rất phong phú và đa dạng.
Khái niệm thể chế đầu tiên do Thorstein Veblen (1914) đưa ra, thể chế là “tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp thuận và tuân thủ” [1]. Báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2002 cũng đưa ra khái niệm thể chế là “Những quy tắc và tổ chức, gồm cả các chuẩn mực không chính thức, phối hợp hành vi con người” [75]. 123doc 16 Theo các tác giả đề tài KX-01-06, “Thể chế là cách thức xã hội xác lập khuôn khổ, trật tự, trong đó diễn ra các quan hệ giữa con người và cơ chế, quy chế, quyền lực, quy tắc, luật lệ vận hành của trật tự xã hội đó” [1]. Theo North Douglass C.
(1994), thể chế được định nghĩa là “những giới hạn do con người đặt ra nhằm cơ cấu sự tương tác giữa con người với nhau. Đó là tổng hợp những giới hạn chính thức (như nguyên tắc, luật lệ, hiến pháp) và phi chính thức (ví dụ những quy phạm về hành vi, tục lệ, nguyên tắc đạo đức) và những đặc điểm cưỡng chế của chúng” [63]. Một nhánh kinh tế học đã xuất hiện đặt trọng tâm vào các thể chế, gọi là “Kinh tế học về thể chế mới (New Institutional Economics - NIE)”. Theo NIE, thể chế là “những nguyên tắc của cuộc chơi” trong xã hội; không có chúng thì các thị trường không hoạt động được.
Tuy có nhiều nhiều khái niệm khác nhau về thể chế, nhưng phần lớn các quan điểm đều thống nhất bản chất của thể chế ở những khía cạnh sau: - Thứ nhất, thể chế là khuôn khổ trật tự quy định về “người chơi”. Đây là các chủ thể tham gia “trò chơi”. “Trò chơi” là nội dung hoạt động mà các chủ thể tham gia. Giao dịch nông sản chính là “trò chơi”.
Trên cơ sở của “trò chơi”, người ta xác định cấu trúc tổ chức cho các chủ thể tham gia. Các chủ thể tham gia bao gồm cả thể nhân và tổ chức. Điều này có nghĩa cấu trúc tổ chức là một thành phần của thể chế. Cấu trúc tổ chức xác định các chủ thể, mối quan hệ giữa các chủ thể và vai trò của mỗi chủ thể tham gia “trò chơi”.
Đây chính là xây dựng khuôn khổ trật tự trong đó các quan hệ của con người được cấu trúc theo một cách thức nhất định. Khuôn khổ trật tự có thể do nhà nước quy định, đó chính là khuôn khổ pháp lý; hoặc do các chủ thể tự quy định, đó chính là tập quán và thông lệ. Khuôn khổ trật tự này một mặt định dạng kiểu cách thể chế, hay kiểu “trò chơi”; mặt khác, xác định vị trí, vai trò và quyền của người chơi trong khuôn khổ cấu trúc các quan hệ thể chế. Nói cách khác thể chế trước hết xác định vai trò của mỗi “người chơi” trong mỗi kiểu “trò chơi” [34].
- Thứ hai, thể chế là hệ thống bao gồm các “luật chơi”. “Luật chơi” chính là cơ chế vận hành của ‘trò chơi”. Cơ chế là “cách thức tổ chức nội bộ và quy luật vận hành, biến hóa của một hiện tượng” [41]. Điều này có nghĩa cơ chế vận hành là xác 123doc 17 định các luật lệ, quy tắc điều tiết và điều chỉnh hành vi của “người chơi”.
Những luật lệ, quy tắc điều tiết và điều chỉnh này có thể do bản thân “người chơi” xây dựng hoặc do Nhà nước xây dựng nhằm cưỡng chế các hành vi con người. Cơ chế bao gồm cơ chế nhà nước, cơ chế thị trường và cơ chế cộng đồng. Cơ chế nhà nước là các khuôn khổ cứng của luật pháp tác động vào hoạt động kinh tế - xã hội. Cơ chế thị trường là cơ chế hoạt động theo hình thức tự do, thông qua hoạt động buôn bán, trao đổi, các bên tham gia đều có lợi, cạnh tranh trong kinh doanh hàng hóa.
Cơ chế cộng đồng là cơ chế vừa dùng các khung luật lệ quy định, vừa phát huy vai trò tự chủ để thỏa thuận, xây dựng cam kết về nghĩa vụ và quyền lợi [33].