Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ thanh toán thẻ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ thanh toán thẻ của ngân hàng thương mại “Thẻ thanh toán ngân hàng là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, được sinh ra từ phương thức mua bán hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ thanh toán của Ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ phát hành phục vụ khách hàng sử dụng thanh toán hàng hóa và dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong số dư tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp” (Phan Thị Thu Hà, 2013, tr27).
“Thẻ được tạo ra với kích thước nhỏ gọn nên chủ thẻ có thể dễ dàng lưu giữ, vận chuyển bất kỳ đâu, bất cứ lúc nào mà không bị hạn chế về không gian và địa lý. Chủ thẻ có thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ trên phạm vi toàn cầu với khả năng chi trả lớnThẻ thanh toán của Ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM.” (Lê Thế Giới, Lê Văn Huy, 2016) “Dịch vụ thanh toán là việc cung cấp phương tiện thanh toán, thực hiện các giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thu, thanh toán và các dịch vụ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước của tổ chức Ứng dụng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người dùng dịch vụ thanh toán. Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của Ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Dịch vụ thanh toán thẻ là một hoạt động của Ngân hàng tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất nhưng nó lại đáp ứng được các nhu cầu thanh toán của khách hàng.
Như vậy, kết hợp với các khái niệm trên, ta có thể hiểu “dịch vụ thanh toán thẻ là một quá trình cung ứng phương thức thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế cho các khoản tiền hàng hoá, dịch vụ thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng bằng cách trích từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền hoặc sử dụng số tiền trong hạn mức tín dụng thoả thuận giữa Ngân hàng và chủ thẻ để chuyển vào tài khoản cho người hưởng thụ” (Trịnh Thanh Huyền, 2015, tr14). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail. Vai trò dịch vụ thanh toán thẻ tại ngân hàng thương mại 1. Đối với nền kinh tế Thứ nhất, “thanh toán qua thẻ sẽ giúp NH huy động được vốn nhàn rỗi ở trong dân với giá thấp.
Vốn này sẽ được Ngân hàng sử dụng để đầu tư vào sản xuất và kinh doanh, đáp ứng được nhu cầu vốn của một nền kinh tế. Ví dụ như nếu mỗi loại tài khoản thẻ có số dư 2,5 triệu đồng thì (chẳng hạn với 3,2 triệu thẻ được phát hành ra, các NH TM sẽ huy động được thêm 11.” (Hà Nam Khánh Giao, ThS Phạm Thị Ngọc Tú, 2015) Thứ hai, “Thẻ thanh toán của NH làm cho hoạt động TT được an toàn, nhanh chóng và đáp ứng được nhu cầu vốn của một nền kinh tế. Việc TT bằng đáp ứng được nhu cầu vốn của một nền kinh tế thẻ đã tạo điều kiện cho việc thanh toán sản phẩm và dịch vụ một cách an kinh tế toàn và hiệu quả, chính xác, đáng tin cậy và tiết kiệm rất nhiều thời gian, từ đó tạo ra niềm tin của người dân khi hoạt động. năng động của hệ thống NH.
Bên cạnh đó, không có chi phí để vận chuyển tiền như thế nào từ nơi nào này đến nơi khác để giảm các tệ nạn tiêu cực và xã hội. Đối với chủ thẻ Thứ nhất, “thẻ thanh toán đem lại sự tiện lợi trong thanh toán hàng hóa và dịch vụ cho người sử dụng thẻ ở cả trong và ngoài nước. Thẻ được tạo ra với kích thước nhỏ gọn nên chủ thẻ có thể dễ dàng lưu giữ, vận chuyển bất kỳ đâu, bất cứ lúc nào mà không bị hạn chế về không gian và địa lý. Chủ thẻ có thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ trên phạm vi toàn cầu với khả năng chi trả lớn.
Thứ hai, “thẻ thanh toán đem lại sự an toàn trong giao dịch. Cùng với sự tiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 7 lợi trong thanh toán, việc sử dụng thẻ còn đem lại cả sự an toàn trong giao dịch. Thay vì phải mang theo một số tiền lớn mỗi khi đi du lịch hay công tác xa, chủ thẻ chỉ cần mang theo một chiếc thẻ nhỏ gọn là các nhu cầu thanh toán có thể được đáp ứng đầy đủ, không thua kém gì thanh toán bằng tiền mặt. Thứ ba, “thẻ thanh toán giúp chủ thẻ tiết kiệm thời gian mua hàng.
Khi sử dụng thẻ, việc thanh toán sẽ tiết kiệm được thời gian cho việc đếm tiền, kiểm tra tiền khi thanh toán hóa đơn có giá trị lớn. Ngoài ra, nếu chủ thẻ đi công tác, đi du lịch thì sẽ không phải mang theo số tiền quá lớn bên mình, hoặc sử dụng séc – thì mỗi lần cần lại phải tới Ngân hàng đổi séc thành tiền mặt, và nếu chi tiêu không hết thì lại phải quay lại Ngân hàng để nộp tiền vào lại tài khoản của mình. Thứ tư, “Thẻ thanh toán sẽ mang lại sự văn minh trong tiêu dùng. Đất nước và nền kinh tế phát triển sẽ được phản ánh trong cả phương thức mua sắm, thanh toán và tiêu dùng của người dân…” (Lê Văn Hải, 2016,).
Đối với đơn vị chấp nhận thẻ Thứ nhất: Chấp nhận thanh toán thẻ cũng có nghĩa là cung cấp cho khách hàng một phương tiện thanh toán nhanh chóng và thuận tiện, góp phần lôi kéo thu hút khách hàng nhất là các khách du lịch nước ngoài, tăng doanh số cung ứng hàng hoá và dịch vụ, và kết quả tất yếu là lợi nhuận sẽ tăng lên. Thứ hai: Chấp nhận thanh toán thẻ cũng giúp các ĐVCNT có được sự ưu đãi trong hoạt động tín dụng với các NHTM như: lãi suất vay thấp, thủ tục vay đơn giản, thuận tiện hơn. Tạo môi trường tiêu dùng và thanh toán văn minh, hiện đại cho khách hàng. Thứ ba: Tăng hiệu quả kinh doanh từ việc sử dụng các công nghệ thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần giảm chi phí bán hàng, ngân quỹ và vận chuyển, kiểm đếm và chi phí bảo quản tiền mặt.
Thứ tư: Được trang bị miễn phí thiết bị chấp nhận thanh toán thẻ điện tử hiện đại, được đào tạo, hướng dẫn sử dụng thành thạo thiết bị thanh toán thẻ và luôn nhận được hỗ trợ kỹ thuật, bảo trì thiết bị miễn phí. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail. Đối với Ngân hàng Thứ nhất, vai trò của thẻ thanh toán đối với việc huy động vốn của Ngân hàng: với thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán dựa trên các tài khoản tiền gửi được mở tại Ngân hàng, do đó, càng nhiều thẻ được phát hành, số lượng tài khoản tiền gửi càng tăng, qua đó số tiền vốn của Ngân hàng tăng theo. Đây là một hình thức huy động vốn của Ngân hàng và cả Ngân hàng phát hành và Ngân hàng thanh toán.
Thứ hai, vai trò của thẻ thanh toán đối với công tác tín dụng của Ngân hàng: Với hình thức thẻ tín dụng, Ngân hàng còn có thể thực hiện các khoản cho vay theo hạn mức tín dụng nhất định, cho phép chủ thẻ chi tiêu trong hạn mức. “Thẻ được tạo ra với kích thước nhỏ gọn nên chủ thẻ có thể dễ dàng lưu giữ, vận chuyển bất kỳ đâu, bất cứ lúc nào mà không bị hạn chế về không gian và địa lý. Chủ thẻ có thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ trên phạm vi toàn cầu với khả năng chi trả lớn. Như vậy với hình thức phát hành thẻ tín dụng, Ngân hàng đã mở rộng hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay tiêu dùng.
Đây là hoạt động tín dụng và đầu tư an toàn, nhanh chóng và hiệu quả do khoản vay này dựa vào uy tín hoặc khả năng tài chính cao của chủ thẻ. Mặt khác để phát hành thẻ, khách hàng có thể ký quý một khoản tiền, hoặc cầm cố sổ tiết kiệm, kỳ phiếu lớn hơn hoặc bằng hạn mức thẻ tín dụng. Phân loại thẻ Ngân hàng 1.1 Phân loại theo công nghệ sản xuất Theo NHNN Việt Nam chia ra các loại thẻ: Một là: “Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card): Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết, số thẻ, tên chủ thẻ, thời hạn sử dụng. Ngày nay, người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật của nó quá thô sơ, dễ bị lợi dụng, làm giả, mà kết hợp với những kỹ thuật mới như băng từ hoặc chip điện tử.” (Ngân hàng Nhà nước, 2019) Hai là: “Thẻ từ (Magnetic Card): là loại thẻ có băng từ ở mặt sau thẻ.
Toàn bộ thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ đều được mã hoá trong băng từ. Loại thẻ này phổ thông nhất trên thế giới được ra đời ngay từ thời kỳ đầu của ngành công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 9 nghiệp thẻ. Cùng với kỹ thuật in hình chìm nhiều lớp biểu tượng và hologram, cộng thêm in ảnh và chữ ký của khách hàng trên thẻ, các TCTQT và các nhà phát hành thẻ đã làm cho loại thẻ này tăng thêm tính bảo mật và an toàn trong sử dụng và thanh toán thẻ.” (Ngân hàng Nhà nước, 2019) Ba là: “Thẻ thông minh (Smart Card): Là loại thẻ có đặt một chíp điện tử tương tự như một máy tính cực nhỏ trên thẻ trong đó lưu trữ tất cả các thông tin về thẻ, chủ thẻ như thẻ từ. Thêm vào đó, chíp này còn lưu trữ số dư tài khoản thẻ hoặc hạn mức tín dụng của chủ thẻ.
Ưu điểm của loại thẻ này là tính an toàn và bảo mật rất cao. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ Một là: “Thẻ tín dụng (Credit Card): Một loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong giới hạn tín dụng được cấp và chủ thẻ phải thanh toán tất cả số dư chưa thanh toán theo quy định.