Chương 1 NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Vấn đề nhân cách và xây dựng, phát triển nhân cách cho học sinh THPT là vấn đề trung tâm của hệ thống khoa học giáo dục về con người, nó vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn lớn lao đối với sự tồn tại và hưng thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc trong quá trình hoà mình vào dòng chảy của thời đại hôm nay và mai sau. Xuyên suốt chiều dài của lịch sử tư tưởng nhân loại đã có rất nhiều khoa học tiếp cận nghiên cứu về nhân cách và những vấn đề có liên quan đến nó ở nhiều góc độ khác nhau như: triết học, giáo dục học, xã hội học, đạo đức học, tâm lý học….Tuy nhiên, triết học là một bộ môn khoa học giải đáp rõ nét, cơ bản nhất bản chất xã hội của con người và những vấn đề chung về nhân cách con người. Đây là cơ sở lý luận vô cùng quan trọng, cung cấp cho các nhà giáo dục những hiểu biết khoa học trong quá trình nghiên cứu, xây dựng phát triển nhân cách cho học sinh THPT.
Khái niệm con người, cá nhân, nhân cách 1. Con người và bản chất con người Ngay từ khởi đầu Triết học đã chú ý và coi con người là đối tượng nghiên cứu. Vào đầu thế kỷ thứ V - thứ VI sau CN, nhà triết học Bôêtut (480-525, La Mã) đã đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh về con người. Theo ông: Con người là một bản thể cá thể của bản chất lý trí, như là một cá thể; nó là vật chất, từ đó tạo nên nguyên tắc cá thể hoá.
Tâm hồn không phải là con người, mà chỉ là một cái gì đó được tạo lập nên. Chỉ một mình người là một trong tồn tại người vật chất; người là tồn tại vật chất cao nhất, tạo nên các phẩm chất đặc biệt là nhân phẩm và các quyền. Quan điểm duy tâm, siêu hình đã quy đặc trưng, bản chất con người vào lĩnh vực ý thức, tư tưởng, tình cảm, đạo đức. Xem bản chất con người là cái gì đó dược quy định sẵn từ tự nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì thể xác và dục vọng để phát triển giống nòi.
Do đó, giải thích bản chất con người từ góc độ những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất. Hoặc lại tìm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ cá nhân riêng lẻ, nghĩa là con người bị tách khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của nó. Tính chất siêu hình của các quan điểm trên về bản chất con người biểu hiện ở chỗ: coi bản chất con người là cái vốn có, trừu tượng và quy nó về bản tính tự nhiên, tách khỏi xã hội và trở nên bất biến. Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng C.Ăngghen đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong việc nhận thức con người và bản chất con người.
Các ông xem xét, phân tích con người xuất phát từ con người hiện thực, con người thực tiễn và chỉ rõ: thông qua hoạt động thực tiễn con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình. Điều đó nghĩa là con người tiếp nhận bản chất xã hội của mình thông qua hoạt động thực tiễn. Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội Đứng về mặt sinh học thì “Con người là một bộ phận của giới tự nhiên” (…, tr135), phát sinh trực tiếp từ động vật.Ăngghen: “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật. Thành thử bao giờ cũng chỉ nói đến việc những đặc tính ấy có ảnh hưởng nhiều đến sự chênh lệch về mức độ thú tính và tính người mà thôi”.
( …, tr146) Như hết thảy mọi sinh vật khác, con người sống dựa vào tự nhiên nhưng khác ở chỗ con người không chỉ dựa vào, mà còn cải tạo giới tự nhiên, tạo ra tự nhiên thứ hai xung quanh mình.Ăngghen chỉ ra bước chuyển từ vượn thành người là nhờ có lao động. Quá trình con người lao động cải tạo giới tự nhiên cũng là quá trình con người tạo ra con người.Ăngghen: “Lao động sáng tạo ra con người là theo nghĩa đấy”. Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành bản chất con người. Song Chủ nghĩa Mác không coi nhẹ mặt tự nhiên, phủ nhận yếu tố sinh vật trong các yếu tố cấu thành bản chất con người.
Theo Mác: “giới tự nhiên là thân thể của con người”. Con người gắn liền với giới tự nhiên vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên. Mỗi người sinh ra trước hết là một thực thể tự nhiên, một sản phẩm của thiên nhiên, một bộ phận của vũ trụ và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên phức tạp.Mác vạch ra sự khác nhau giữa con người và con vật: Con vật hoạt động theo bản năng còn con người hoạt động theo ý thức. Chính mặt xã hội của con người đã làm cho mặt sinh vật trong con người phát triển ở trình độ cao hơn những động vật khác.
Con người sống, hoạt động không phải chỉ theo những bản năng di truyền, có sẵn như các động vật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hoá, của tiến bộ lịch sử - xã hội. Khi xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng có sự thay đổi tương ứng. Sự phát triển của mỗi cá nhân là tiền đề cho sự phát triển của xã hội vì mỗi người đều sống trong xã hội nhất định, là sản phẩm của lịch sử - xã hội, sản phẩm của nền văn minh. Từ một con người tự nhiên phát triển thành một nhân cách, con người phải chịu hàng loạt những tác động, chi phối của những yếu tố chủ quan và khách quan, theo cả quy luật tự nhiên và quy luật xã hội.
Sự phát triển của con người là sự trưởng thành cả về thể chất và tinh thần. Sự phát triển về thể chất là sự trưởng thành sinh học, cơ bắp, thần kinh và các cơ quan nội tạng…theo quy luật tự nhiên. Sự phát triển về tinh thần là sự trưởng thành về tâm lý, ý thức theo quy luật tâm lý và quy luật xã hội trên cơ sở lĩnh hội nền văn minh nhân loại. Sự phát triển thể chất gắn liền với sự phát triển về tinh thần, theo quy luật phát triển tâm, sinh lý lứa tuổi, đó là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và sự chuyển hoá chúng cho nhau; là bước phát triển nhảy vọt của từng cá nhân về năng lực và phẩm hạnh phù hợp với lịch sử xã hội và thời đại.
Sự phát triển đó tạo nên nhân cách của con người, trong đó có nhân cách của học sinh THPT. Trong khi phê phán những quan điểm của Phơbách, xuất phát từ những cá thể cô lập để nhận thức bản chất con người.Mác đã đưa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất con người: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” (…,11) Khi nói bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội cũng có nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất con người, nhưng yếu tố có ý nghĩa quyết định nhất là quan hệ sản xuất. Bởi vì các quan hệ khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự quy định của quan hệ này.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kiểu quan hệ sản xuất nhất định giữ vai trò chi phối và chính kiểu quan hệ sản xuất đó lại là cái xét đến cùng, tạo nên bản chất của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ trong từng hình thái xã hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng chế độ, thời đại riêng biệt. Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang đương đại, vừa theo chiều dọc lịch sử. Các quan hệ xã hội quy định bản chất con người bao gồm cả quan hệ xã hội hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống, bởi vì trong lịch sử của mình con người bắt buộc phải kế thừa di sản của những thế hệ trước đó.
Khi xem xét bản chất con người ta không được tách rời hiện tại và quá khứ vì trên lĩnh vực văn hóa tinh thần có những truyền thống thúc đẩy con người biết cố gắng vươn lên, nhưng cũng có những truyền thống “đè nặng lên những con người đang sống”. Bản chất một con người cụ thể là tổng hoà các quan hệ xã hội “vốn có” và quy định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của người đó. Còn tất cả những hành vi của người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng biểu hiện bản chất của họ. Sự thể hiện bản chất của con người không phải theo con đường thẳng trực tiếp, mà thường là gián tiếp, quanh co qua hàng loạt mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài; giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền tự nhiên và văn hoá xã hội.
Như vậy, con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. Sự tác động qua lại giữa hai mặt này trong con người tạo thành bản chất người. Bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá thể riêng lẻ mà là tổng hoà của toàn bộ quan hệ xã hội. Đây là phát hiện có giá trị to lớn của Chủ nghĩa Mác về bản chất con người.
Con người tồn tại qua những cá nhân người. Mỗi cá nhân người là một chỉnh thể gồm một hệ thống những nhân tố, bao hàm cả những đặc điểm cụ thể không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác về cơ chế, tâm lí, trình độ… 1.