phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng và các tiết nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của đề tài Chƣơng 2: Đề xuất nội dung và cách thức tổ chức dạy học ca dao, dân ca lớp 7 Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát về văn học dân gian, ca dao, dân ca Việt Nam 1. Khái niệm văn học dân gian Thuật ngữ “văn học dân gian” xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX và hiện nay đƣợc dùng rộng rãi trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam. Có một số quan điểm khác nhau về văn học dân gian của nhiều nhóm nghiên cứu, trong đó có nhóm Đỗ Đức Hiểu, Đinh Gia Khánh,v.v…Theo nhóm Đỗ Đức Hiểu, văn học dân gian “còn gọi là văn chƣơng bình dân hoặc văn chƣơng truyền miệng”, “chỉ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân lao động, phát sinh từ thời kỳ công xã nguyên thủy và phát triển mạnh mẽ trong xã hội có giai cấp cho đến cả thời hiện đại, v.
Nhóm Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên khai thác sâu hơn về nội hàm khái niệm văn học dân gian nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng, cho rằng, “Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy… Văn học dân gian ở Việt Nam còn đƣợc gọi là văn chƣơng bình dân, văn chƣơng truyền khẩu, văn nghệ dân gian, sáng tác dân gian. Một nhóm tác giả khác tìm hiểu về khái niệm văn học dân gian theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, cho rằng văn học dân gian “Văn học dân gian “còn gọi là văn chƣơng (văn học) bình dân, văn chƣơng truyền miệng hay truyền khẩu, là toàn bộ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Văn học dân gian đƣợc dùng theo nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nhóm này, văn học dân gian đƣợc hiểu là tất cả các hình thức, các thể loại khác nhau của sáng tác dân gian mà thuật ngữ quốc tế gọi là “Folklore”, bao gồm tất cả các hình thức và thể loại sáng tác dân gian có thành phần với nghệ thuật ngôn từ kết hợp với các thành phần nghệ thuật khác với thành phần ngôn từ mang tính 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất tổng hợp, đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp nhất theo yêu cầu chuyên môn hóa của công việc nghiên cứu văn học.
Từ việc nghiên cứu các khái niệm văn học dân gian của các nhà nghiên cứu nêu trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi khái quát các điểm cốt lõicủa văn học dân gian nhƣ sau: văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, miêu tả và biểu hiện cuộc sống, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay thể hiện sức sống lâu bền và mãnh liệt. Văn học dân gian Việt Nam gồm những thể loại chính nhƣ: thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cƣời, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao – dân ca, vè, truyện thơ, các thể loại sân khấu (chèo, tuồng, múa rối, các trò diễn mang tích truyện). Khái niệm ca dao, dân ca Có một số nhà nghiên cứu đƣa ra khái niệm ca dao, theo nhóm Đỗ Đức Hiểu, ca dao “còn gọi là phong dao. Phong dao, ca dao không phải là những thuật ngữ dân gian.
Đó là thuật ngữ Hán Việt. Trong dân gian, ngƣời ta thƣờng gọi là câu ca. So với thuật ngữ phong dao, “thuật ngữ ca dao có nội dung rộng hơn. Thuật ngữ này đã đƣợc dùng rộng hơn trong giới trí thức Hán học ở Trung Quốc từ nhiều thế kỷ trƣớc.
Thêm nữa, “ca dao dân gian từ Cách mạng tháng 8 (1945) trở về trƣớc thƣờng đƣợc gọi rõ hơn là ca dao cổ truyền…”[23, tr. Lại Nguyên Ân cho rằng, ca dao là “thể loại sáng tác thơ ca dân gian.v…, Ca dao ra đời, tồn tại và đƣợc diễn xƣớng dƣới hình thức những lời hát trong các sinh hoạt dân ca mà đối đáp là sinh hoạt trọng yếu và phổ biến nhất; mặt khác, ca dao cũng phần nào đƣợc hình thành từ xu hƣớng cấu tạo những lời nói có vần, có nhịp trong sinh hoạt dân gian, do đó vẫn thƣờng đƣợc dùng trong lời nói hàng ngày. Theo Nguyễn Lân, “dao: bài hát không chƣơng khúc. Câu hát truyền miệng của dân gian không theo một điệu nhất định”[38, tr.
Bài hát phổ biến trong nhân dân”[38, tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một nhóm nghiên cứu khác cho rằng, “Ca dao còn gọi là phong dao. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lƣu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu.
Trong trƣờng hợp này, ca dao đồng nghĩa với dân ca” [52, tr. Ca dao mới khác với ca dao cổ về các phƣơng diện (thời gian, hoàn cảnh, lực lƣợng sáng tác, hệ thống đề tài, chủ đề, phƣơng thức và phƣơng tiện truyền thông phổ biến). Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, “Ca dao là thể loại văn học dân gian thể hiện bằng các câu văn vần lục bát” [14, tr. Về khái niệm dân ca, nhóm Đỗ Đức Hiểu cho rằng, dân ca là “loại hình sáng tác dân gian trong đó yếu tố văn học đƣợc hình thành đồng thời với yếu tố âm nhạc, khi diễn xƣớng có thể kèm theo cả những động tác.
Dân ca Việt Nam gồm ba nhóm lớn: nhóm dân ca lao động, nhóm dân ca nghi lễ, nhóm dân ca. Theo Lại Nguyên Ân, dân ca là “một loại hình sáng tác dân gian, trong đó yếu tố sáng tác lời đƣợc hình thành đồng thời với yếu tố nhạc, và lúc diễn xƣớng còn có thể kèm thêm yếu tố nhảy múa. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, “Dân ca là một loại hình sáng tác dân gian mang tính tổng hợp, bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong điệu xƣớng” [52, tr.89] hay dân ca là “làn điệu và bài hát truyền thống lƣu truyền trong dân gian, từng vùng, từng dân tộc”[14, tr. Về phân biệt ca dao, dân ca, nhóm Đỗ Đức Hiểu cho rằng, “thuật ngữ ca dao và thuật ngữ dân ca hầu nhƣ không có ranh giới rõ rệt.v… Ca dao không phải là toàn bộ lời thơ của các câu hát và bài hát dân gian, mà chỉ là một bộ phận quan trọng của thơ ca dân gian, chủ yếu thuộc thể loại trữ tình và mang phong cách riêng.
Chính phong cách riêng này của ca dao đã phân biệt ca dao với thơ thành văn và cả một số thể loại thơ ca dân gian khác nhƣ thơ sử thi, vè. Ngoài ra, tác giả Phan Trọng Luận cho rằng, “ca dao là phần tinh túy của dân ca. Ca dao có nguồn gốc từ dân ca” [42, tr. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp các ý kiến trên, chúng tôi cho rằng, ca dao chỉ thể loại văn học trữ tình dân gian, diễn tả đời sống nội tâm con ngƣời.
Khi đƣợc văn bản hóa, ca dao chỉ còn lại phần lời mà không lƣu giữ đƣợc những yếu tố khác, trong đó có âm nhạc. Dân ca là loại hình sáng tác dân gian tổng hợp, gồm thơ ca và nhạc điệu mang bản sắc văn hóa riêng của từng vùng miền, dân tộc. Dân ca là những bài hát chuẩn mực đã trải qua sự lựa chọn, thử thách trong dân gian nên có làn điệu bền vững, có giá trị cao về âm nhạc dân gian. Ca dao, dân ca tuy là hai thể loại khác nhau nhƣng không phân ranh giới rõ ràng, trong đó, ca dao là thơ ca dân gian; còn dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc, đƣợc gọi là âm nhạc dân gian.
Giữa ca dao và dân ca cơ bản không có sự khác biệt. Nếu lƣợc đi phần nhạc của những bài dân ca, phần lời chính là những bài ca dao quen thuộc. Các chủ đề chủ yếu trong ca dao, dân ca Việt Nam Ca dao, dân ca lƣu truyền trong dân gian và đƣợc ghi chép lại trong các bộ tuyển tập văn học thực sự là một vốn văn hóa dân gian đồ sộ. Việc phân chia các đề tài trong ca dao, dân ca trong số mấy chục vạn bài cũng chỉ là tƣơng đối, bởi mỗi bài ca dao, dân ca có thể mang nhiều chủ đề khác nhau.
Ở đây, chúng tôi tạm phân chia ca dao, dân ca theo các chủ đề sau: 1. Chủ đề lao động Ca dao, dân ca là tiếng hát trái tim của ngƣời lao động, gắn bó trực tiếp với đời sống lao động của xã hội. Có thể thấy rằng, “mối quan hệ của văn học dân gian với lao động thực tiễn, gắn với hình thái lao động cụ thể, biểu hiện của mối quan hệ thẩm mỹ của nhân dân đối với lao động, những hoạt động lao động cụ thể” [33, tr. Nhạc và lời trong ca dao, dân ca chính là lời thơ và âm nhạc dân gian, cũng là nhạc điệu của đời sống lao động.
Có thể nói, chủ đề lao động xuyên suốt trong hầu hết các bài ca dao, dân ca. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ca dao, dân ca có chủ đề lao động phản ánh sinh hoạt lao động của ông cha xƣa nhƣng cũng mang ý nghĩa giáo dục cao độ. Rất nhiều câu ca dao tác động đến ngƣời đọc, nhất là lứa tuổi HS, khiến các em thêm yêu lao động, quý trọng ngƣời lao động cũng nhƣ giá trị lao động. Hầu hết ca dao, dân ca có chủ đề lao động đều thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể lao động với các ngành nghề, đặc biệt là nghề nông.
Hình tƣợng đồng lúa, thóc vàng, giọt mồ hôi, con trâu, mùa vụ, ngƣời nông dân.v…, luôn hiện diện trong rất nhiều câu ca dao có chủ đề lao động sản xuất. Một số câu ca dao viết về nỗi cực nhọc của nhà nông và ngƣời lao động xƣa nhƣ: “Than vì cây lúa lá vàng/Nƣớc đâu mà tƣới cho hoàn nhƣ xƣa/Trông trời chẳng thấy trời mƣa/Lan khô huệ héo thảm chƣa hỡi trời”; hay “Sớm mai lên núi đốt than/Chiều về xuống biển đào hang bắt còng”.v… Hình 1: Hình ảnh minh họa chủ đề lao động trong ca dao, dân ca Cày đồng đang buổi ban trƣa Mồ hôi thánh thót nhƣ mƣa ruộng cày 1. Chủ đề gia đình, tình yêu, hôn nhân Gia đình, tình yêu, hôn nhân là chủ đề muôn đời của sáng tác văn học và ca dao, dân ca cũng không phải là ngoại lệ. Ca dao, dân ca với chủ đề gia đình 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.