Tổng quan nghiên cứu

Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu ngành da giày Việt Nam đạt 2.691,6 triệu USD, vượt mục tiêu kế hoạch cả năm là 2,6 tỷ USD và đưa Việt Nam vào vị trí thứ tư thế giới về xuất khẩu giày dép, chỉ xếp sau Trung Quốc, Hồng Kông và Ý. Với năng lực sản xuất đạt trên 390 triệu đôi giày và 35 triệu túi xách vào năm 2003, ngành da giày đã khẳng định vị thế là một trong sáu ngành kinh tế mũi nhọn có kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 1 tỷ USD. Tuy nhiên, đằng sau sự tăng trưởng ấn tượng đó là một nghịch lý kéo dài: ngành công nghiệp này phụ thuộc tới 75% - 80% vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu.

Việc thiếu hụt trầm trọng nguồn cung nội địa khiến các doanh nghiệp trong nước chủ yếu phải hoạt động dưới hình thức gia công thuần túy, khiến phần giá trị gia tăng thực tế thu về chỉ đạt khiêm tốn từ 15% đến 20% kim ngạch xuất khẩu. Tình trạng nhập siêu nguyên phụ liệu không chỉ bào mòn lợi nhuận mà còn đẩy doanh nghiệp vào thế bị động trước các biến động giá cả và thời gian giao hàng quốc tế. Trước sức ép hội nhập kinh tế sâu rộng, đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: phân tích thực trạng cung - cầu nguyên liệu, đánh giá môi trường kinh doanh và hoạch định chiến lược phát triển nguồn nguyên liệu nội địa đồng bộ đến năm 2010.

Phạm vi không gian của nghiên cứu bao quát mạng lưới doanh nghiệp sản xuất da giày và cơ sở cung ứng nguyên liệu trên phạm vi cả nước, đặc biệt tập trung tại ba vùng trọng điểm gồm Đồng bằng sông Hồng, Tam giác kinh tế phía Nam và khu vực miền Trung. Phạm vi thời gian sử dụng chuỗi dữ liệu thống kê từ năm 1997 đến năm 2004 để xây dựng định hướng chiến lược đến năm 2010. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu da giày lên 6,2 tỷ USD và nâng sản lượng giày dép lên 720 triệu đôi vào năm 2010, chuyển đổi mô hình từ gia công sang phương thức kinh doanh tự chủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị chiến lược hiện đại của Fred R. David, tiếp cận chiến lược như một tập hợp các mục tiêu dài hạn, chính sách và kế hoạch hành động nhằm phân bổ tối ưu các nguồn lực doanh nghiệp. Để nhận diện toàn diện bối cảnh hoạt động, khung phân tích môi trường vĩ mô (PEST) và mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter được vận dụng để mổ xẻ các tác động từ kinh tế, thể chế pháp lý, công nghệ, áp lực từ nhà cung ứng, khách hàng và đối thủ tiềm ẩn.

Công cụ trung tâm được áp dụng là Ma trận SWOT, cho phép kết hợp logic giữa các Điểm mạnh (S), Điểm yếu (W), Cơ hội (O) và Đe dọa (T) để thiết lập bốn nhóm chiến lược thích nghi bao gồm SO, WO, ST và WT. Song song đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết tăng trưởng tập trung (thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm) và lý thuyết liên kết dọc, trọng tâm là chiến lược hội nhập về phía sau nhằm thiết lập quyền kiểm soát đối với các yếu tố đầu vào. Nghiên cứu cũng vận dụng các khái niệm marketing căn bản của Philip Kotler về phân khúc khách hàng và quản trị chuỗi cung ứng sản xuất để định hướng phát triển sản phẩm tương thích với thị hiếu tiêu dùng.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ Niên giám Thống kê giai đoạn 2000 - 2005 của Tổng cục Thống kê, cơ sở dữ liệu xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, số liệu từ Hiệp hội Da giày TP. Hồ Chí Minh và Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da giày đến năm 2010 của Bộ Công nghiệp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua tham vấn ý kiến chuyên sâu của các cán bộ quản lý và chuyên gia kỹ thuật tại các doanh nghiệp da giày đầu ngành.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu đa chiều và suy luận logic. Nghiên cứu khảo sát tổng thể trên hơn 300 doanh nghiệp da giày đang hoạt động trên toàn quốc (trong đó TP. Hồ Chí Minh chiếm hơn 200 doanh nghiệp) cùng 22 cơ sở thuộc da tại TP. Hồ Chí Minh và các đơn vị sản xuất phụ liệu tiêu biểu tại Nghệ An, Huế, Cần Thơ. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo khu vực địa lý và quy mô sản phẩm được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất cho bức tranh công nghiệp hỗ trợ còn non trẻ. Khung thời gian dữ liệu từ năm 1997 đến năm 2004 cung cấp đủ độ dài chuỗi thời gian để phát hiện quy luật biến động và dự phóng các chỉ tiêu sản xuất đến năm 2010 một cách khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô xuất khẩu giày dép tăng trưởng liên tục nhưng giá trị nội địa tạo ra còn rất mỏng. Giai đoạn 1997 - 1999 ghi nhận tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 18,5%/năm, đột biến vào năm 1999 đạt 33,2% (tương đương 1.334 triệu USD). Giai đoạn 2000 - 2004 duy trì mức tăng bình quân 15,2%/năm, đưa kim ngạch từ 1.468 triệu USD năm 2000 lên 2.691,6 triệu USD năm 2004. Dẫu vậy, phương thức gia công vẫn chiếm trên 80% tỷ trọng, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận thực tế trên một đơn vị sản phẩm rất thấp, giá trị gia tăng chỉ chiếm 15% - 20%.

Thứ hai, mức độ phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu ở mức báo động. Năm 2000, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu giày dép ở mức 504,2 triệu USD, đến năm 2004 đã tăng lên 811 triệu USD (tăng 60,8%). Nếu tính gộp cả ngành dệt may và da giày, tổng giá trị nhập khẩu nguyên phụ liệu năm 2004 lên tới 2.252,7 triệu USD. Các doanh nghiệp trong nước chỉ mới tự cung ứng được khoảng 20% - 25% nhu cầu nguyên phụ liệu thông thường, còn lại phần lớn các chi tiết cao cấp như da thuộc tinh chế, đế chuyên dụng, keo dán tổng hợp và vải bạt kỹ thuật cao đều phải nhập khẩu từ Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Thứ ba, sự đứt gãy giữa tiềm năng chăn nuôi nông nghiệp và ngành công nghiệp thuộc da. Nguồn cung da thuộc trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 15% nhu cầu sản xuất giày da. Trong khi đó, quy mô đàn gia súc cả nước năm 2004 đạt 2.897,8 nghìn con trâu cùng hàng triệu con bò và lợn, có khả năng cung ứng lý thuyết khoảng 300 triệu sqft da tươi mỗi năm. Tuy nhiên, do khâu giết mổ diễn ra phân tán tại các hộ gia đình, thiếu cơ sở tập trung nên da tươi bị rách, thủng và suy giảm phẩm cấp nghiêm trọng, khiến các nhà máy thuộc da trong nước rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu đạt chuẩn.

Thứ tư, khoảng cách công nghệ và năng lực đầu tư nghiên cứu phát triển (R&D) bị tụt hậu sâu. Chi tiêu cho nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,4% GDP, thấp hơn rất nhiều so với mức 2% - 3% của các quốc gia lân cận. Tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nội địa chỉ dao động từ 0,2% đến 3% doanh thu, trong khi chỉ số này ở Ấn Độ là 5% và Hàn Quốc là 10%. Hệ quả là máy móc thiết bị ngành nguyên phụ liệu da giày Việt Nam lạc hậu so với khu vực từ 20 đến 30 năm, chỉ số xếp hạng công nghệ chỉ đứng thứ 92, kém xa Trung Quốc (hạng 62) và Thái Lan (hạng 43).

Thảo luận kết quả

Thực trạng nhập khẩu quá mức xuất phát từ việc thiếu vắng quy hoạch bài bản cho công nghiệp hỗ trợ trong thời gian dài. Các cơ sở sản xuất nguyên liệu tự phát, quy mô vốn nhỏ và công nghệ lạc hậu không thể đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về kiểu dáng, độ đồng đều và tính thời trang của các thương hiệu quốc tế như Nike hay Adidas. So với đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Trung Quốc – quốc gia có chuỗi cung ứng khép kín với giá thành nguyên liệu cực rẻ, hay Đài Loan và Ý với trình độ thiết kế vượt trội – doanh nghiệp Việt Nam chịu áp lực kẹp giữa chi phí đầu vào cao và năng lực thiết kế yếu.

Về mặt trình bày trực quan, diễn biến này có thể được mô hình hóa thông qua biểu đồ đường kết hợp cột (dual-axis chart) thể hiện tương quan đồng biến giữa mức tăng kim ngạch xuất khẩu giày dép và đà tăng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu giai đoạn 1997 - 2004, đi kèm bảng so sánh đối chuẩn (benchmarking table) về tỷ lệ đầu tư R&D và tuổi thọ công nghệ giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực. Điều này chứng minh rằng việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa không chỉ là yêu cầu giảm chi phí đơn thuần, mà là điều kiện sống còn để chuyển dịch sang phương thức mua nguyên liệu - bán thành phẩm (FOB) trước thềm gia nhập AFTA và WTO.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực thi chiến lược hội nhập về phía sau với ngành nông nghiệp nhằm chuẩn hóa nguồn da tươi đầu vào. Các doanh nghiệp thuộc da cần chủ động liên kết, ứng vốn và ký hợp đồng bao tiêu dài hạn với các trung tâm chăn nuôi gia súc lớn tại Đồng bằng sông Hồng, miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long. Đích đến là đưa sản lượng da thuộc thành phẩm từ mức 40 triệu sqft năm 2005 lên 80 triệu sqft vào năm 2010. Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp thuộc da phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm công nghiệp hóa quy trình giết mổ tập trung, giảm tỷ lệ da phế phẩm xuống dưới 5% trong giai đoạn 2005 - 2008.

Thứ hai, thiết lập liên minh chiến lược giữa các doanh nghiệp sản xuất giày dép và nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu. Các doanh nghiệp da giày cần tham gia góp vốn, liên kết dọc để thành lập các cơ sở sản xuất đế giày, vải bạt, simili và phụ liệu trang trí, bảo đảm thị trường tiêu thụ nội bộ ổn định. Mục tiêu cụ thể đến năm 2010 là nâng năng lực cung ứng đế giày đạt 550 nghìn tấn, vải các loại đạt 155 triệu yard, giả da đạt 90 triệu yard và keo tổng hợp đạt 6.000 tấn. Hiệp hội Da giày cùng các doanh nghiệp thành viên giữ vai trò hạt nhân điều phối dòng vốn và thông tin thị hiếu từ năm 2005 đến 2010.

Thứ ba, đẩy nhanh tiến độ giải ngân và quy hoạch các khu, cụm công nghiệp nguyên phụ liệu tập trung gắn liền với xử lý môi trường. Bộ Công nghiệp và chính quyền địa phương cần tập trung triển khai gói ngân sách đầu tư theo quy hoạch: 636 tỷ đồng cho Khu công nghiệp thuộc da phía Nam, 239 tỷ đồng cho các doanh nghiệp thuộc da phía Bắc, 47 tỷ đồng cho khu vực miền Trung và 100 tỷ đồng dành riêng cho các dự án xử lý nước thải, ô nhiễm môi trường giai đoạn 2003 - 2010. Việc quy hoạch phải hoàn tất trong giai đoạn 2005 - 2007 để tạo mặt bằng sạch thu hút nhà đầu tư.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống thể chế, cải cách chính sách thuế và đẩy mạnh thu hút FDI công nghệ cao. Nhà nước cần điều chỉnh ngay những bất cập trong chính sách thuế: hạ thuế suất nhập khẩu 30% đối với hóa chất thuộc da chuyên dùng, bãi bỏ các thủ tục hải quan rườm rà, áp dụng cơ chế đăng ký kinh doanh bình đẳng và hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đãi cho các dự án công nghiệp phụ trợ. Đồng thời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần đẩy mạnh xúc tiến thu hút các dự án FDI hoặc liên doanh 100% vốn nước ngoài có công nghệ hoàn thiện bề mặt da hiện đại từ Ý, Đức, Hàn Quốc trong giai đoạn 2006 - 2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là ban lãnh đạo và các nhà quản trị chiến lược tại hơn 300 doanh nghiệp sản xuất da giày trên toàn quốc. Luận văn cung cấp mô hình phân tích ma trận SWOT thực tế và các phương án liên kết dọc, giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng mạng lưới cung ứng nội địa, giảm thiểu rủi ro tỷ giá và từng bước xóa bỏ sự phụ thuộc vào đơn hàng gia công.

Nhóm thứ hai là các chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Công nghiệp, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính và cơ quan Hải quan. Tài liệu này cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể về nút thắt thuế quan (như thuế hóa chất thuộc da 30%) và thủ tục hành chính, làm căn cứ thiết thực để sửa đổi văn bản pháp luật, ban hành chính sách ưu đãi đầu tư và quy hoạch các cụm công nghiệp hỗ trợ tập trung.

Nhóm thứ ba là các nhà đầu tư trong nước, doanh nghiệp FDI và các định chế tài chính, ngân hàng thương mại. Dữ liệu luận văn chỉ rõ dung lượng thị trường nguyên phụ liệu khổng lồ với nhu cầu hàng trăm triệu yard vải và hàng chục triệu sqft da mỗi năm, mở ra cơ hội giải ngân vốn khả thi vào các dự án sản xuất đế giày, hóa chất và da nhân tạo đến năm 2010.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Quản trị kinh doanh và Kinh tế công nghiệp. Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp lý thuyết quản trị chiến lược với bài toán chuỗi cung ứng ngành hàng cụ thể tại một nền kinh tế đang chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến ngành da giày Việt Nam phụ thuộc tới 75% - 80% nguyên liệu nhập khẩu là gì?
Nguyên nhân trực tiếp do năng lực sản xuất công nghiệp hỗ trợ nội địa quá yếu kém, chỉ đáp ứng 20% - 25% nhu cầu sản xuất chung. Doanh nghiệp gia công phụ thuộc chỉ định vật tư từ khách hàng ngoại, trong khi các cơ sở sản xuất nguyên liệu trong nước thiếu vốn, công nghệ lạc hậu 20 - 30 năm nên không đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng và mẫu mã quốc tế.

Tiềm năng ngành thuộc da trong nước chưa được khai thác tối ưu do những rào cản nào?
Mặc dù tổng đàn gia súc năm 2004 đạt gần 2,9 triệu con trâu và đàn bò lớn có thể cung ứng 300 triệu sqft da tươi, ngành thuộc da mới chỉ đáp ứng 15% nhu cầu. Nguyên nhân là do khâu giết mổ manh mún làm hỏng da tươi, thiếu quy hoạch khu công nghiệp tập trung và các dự án xử lý nước thải ô nhiễm đòi hỏi vốn lớn (khoảng 100 tỷ đồng).

Chiến lược hội nhập ngược về phía sau mang lại lợi ích cụ thể gì cho doanh nghiệp da giày?
Chiến lược này giúp doanh nghiệp sản xuất giày kiểm soát trực tiếp chất lượng, giá thành và tiến độ giao hàng của các nguyên liệu đầu vào như da thuộc, đế giày, vải bạt. Việc liên kết dọc giúp gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, nâng tỷ suất giá trị gia tăng từ mức 15% - 20% hiện tại lên mức cao hơn khi chuyển sang phương thức bán hàng FOB.

Kế hoạch phân bổ vốn đầu tư cho các dự án thuộc da đến năm 2010 được xác định như thế nào?
Theo quy hoạch ngành của Bộ Công nghiệp, tổng nguồn vốn đầu tư trọng điểm bao gồm 636 tỷ đồng cho Khu công nghiệp thuộc da phía Nam, 239 tỷ đồng cho các doanh nghiệp phía Bắc, 47 tỷ đồng cho khu vực miền Trung và 100 tỷ đồng dành riêng cho các công trình xử lý chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái.

Vì sao doanh nghiệp da giày cần chuyển đổi nhanh chóng từ phương thức gia công sang mua đứt - bán đoạn?
Gia công đơn thuần khiến doanh nghiệp chịu tỷ suất lợi nhuận mỏng và hoàn toàn bị động trước biến động đơn hàng. Khi các rào cản thuế quan được dỡ bỏ sau năm 2006 theo lộ trình AFTA, việc tự chủ nguyên liệu để xuất khẩu theo phương thức FOB là con đường duy nhất giúp doanh nghiệp giữ vững thị phần và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh ngành da giày Việt Nam giai đoạn 1997 - 2004, chỉ rõ điểm nghẽn phụ thuộc 75% - 80% nguyên phụ liệu ngoại nhập khiến giá trị gia tăng chỉ đạt 15% - 20%.
  • Hệ thống hóa khung lý luận quản trị chiến lược và vận dụng thành công ma trận SWOT để xác lập 4 định hướng chiến lược then chốt cho ngành công nghiệp nguyên phụ liệu.
  • Đề xuất giải pháp hội nhập ngược với ngành nông nghiệp và liên kết dọc giữa hơn 300 doanh nghiệp da giày nhằm đạt chỉ tiêu 80 triệu sqft da thuộc và 550 nghìn tấn đế giày vào năm 2010.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc giải ngân trên 1.000 tỷ đồng vốn đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp tập trung và hệ thống xử lý môi trường tại ba miền Bắc - Trung - Nam.
  • Đưa ra khuyến nghị hoàn thiện thể chế thuế quan và thủ tục hải quan nhằm thu hút dòng vốn FDI công nghệ cao trước thềm hội nhập AFTA và WTO.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2005 đến năm 2010, các cơ quan quản lý nhà nước cùng cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng bắt tay hiện thực hóa các cụm liên kết ngành, đưa công nghiệp hỗ trợ trở thành đòn bẩy vững chắc để ngành da giày Việt Nam bứt phá mạnh mẽ trên thị trường toàn cầu.