CHƯƠNG 1 9 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TỔ CHỨC 1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái quát về nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Từ thập niên 80 của thế kỷ XX với sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý hiện đại, lấy con người làm trung tâm thì thuật ngữ “nguồn nhân lực” bắt đầu được sử dụng rộng rãi, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. “Nguồn nhân lưc̣ của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣơc̣ hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”.
Khái niệm này chưa chú trọng đến sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức khi họ phối hơp̣ tốt với nhau , chưa nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa các cá nhân với nhau. [7] “Nguồn nhân lưc̣ là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải, vâṭ chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiêṇ ra là số lượng và chất lượng nhất định taị một thời điểm nhất định”. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến kết quả, chất lượng nhân lực. [4] “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.
Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp”. [20] 10 Theo Bùi Văn Nhơn trong sách quản lý và phá t triển nguồn nhân lƣc̣ xã hôị, xuất bản năm 2006 thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau ở mỗi giác độ tiếp cận nghiên cứu, song tác giả thấy có thể hiểu: “Nguồn nhân lực là toàn bộ con ngƣời làm việc trong tổ chức, có thể lực, trí lực, tâm lực khác nhau, được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức. Tùy theo phương pháp của tổ chức, sức mạnh nguồn nhân lực được tạo ra, được sử dụng và nhân lên” [13] Ngân hàng Thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp … của mỗi cá nhân” Theo tổ chức Lao động quốc tế: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”.
Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được thể hiện ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp. Nhân lực vừa là nguồn lực mang tính chiến lược vừa là nguồn lực vô tận Trong điều kiện xã hội đang phát triển theo hướng kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm bớt vai trò quyết định.
Bên cạnh đó, nhân tố tri thức con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Do đó, nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững; ngày càng tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của năm yếu tố: giáo dục và đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người. Trong quá trình tác động đến sự 11 phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau; trong đó, giáo dục và đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác.
Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững nguồn nhân lực”. Theo quan điểm sử dụng năng lực con người “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là sự gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn…để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muồn màu của nhân loại. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả 3 mặt: Phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn lực phát triển” [14] Nội hàm khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao gồm: - Về mục tiêu, phát triển nguồn nhân lực là hoàn thiện và nâng cao năng lực lao động và năng lực sáng tạo của nguồn lực con người trong doanh nghiệp cho phù hợp với công việc trong hiện tại và thích ứng với sự đổi mới trong tương lai.
- Về tính chất, phát triển nguồn nhân lực là một quá trình mang tính liên tục và chiến lược nhằm nâng cao năng lực của doanh nghiệp về nguồn lực con người. - Về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm: hợp lý hóa quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, phát 12 triển nguồn nhân lực về chất lượng (trên cả 3 phương diện thể lực, trí lực và tâm lực) là nội dung trọng yếu. - Về biện pháp, phát triển nguồn nhân lực được hiểu là quá trình thực hiện tổng thể các chính sách và biện pháp thu hút, duy trì và đào tạo mang tính chất “đầu tư chiến lược” cho nguồn lực con người của doanh nghiệp.2 Vai trò của nguồn nhân lực Trình độ phát triển con người chính là cốt lõi của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vai trò của nguồn nhân lực vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội. Có thể tóm lược thành các vai trò sau: - Thứ nhất, đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội. Mọi chính sách, mọi giải pháp nhằm giải phóng lực lượng sản xuất và sử dụng có hiệu quả cao nhất nguồn nhân lực và nhằm để phát huy tiềm năng của nguồn lực. - Thứ hai, phát huy nguồn lực con người bằng cách tạo mọi điều kiện để người lao động làm việc và cống hiến cho xã hội nhiều hơn.
Muốn vậy, phải phát triển nhanh nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động trong phạm vi từng doanh nghiệp đến khu vực và toàn cầu, giải phóng tiềm năng vốn, kỹ thuật và công nghệ. - Thứ ba, nâng cao trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức sáng tạo của người lao động theo hướng phát triển của nền kinh tế tri thức. Nâng cao sức sản xuất, sức sáng tạo của người lao động. Tôn vinh và chú trọng nhân tài là nhân tố quyết định phát triển nhanh và bền vững.
Nhà nước cần có biện pháp phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng và có các chính sách đãi ngộ người tài phù hợp. - Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục và đào tạo, các chương trình đào tạo, các ngành nghề đào tạo … phù hợp và đáp ứng yêu cầu 13 cho sự phát triển trước mắt và lâu dài. Phối hợp với các ngành hữu quan, đảm bảo sự cân đối giữa chương trình, mục tiêu và cơ cấu ngành nghề theo yêu cầu của quá trình phát triển đất nước. Quản trị nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt trong kinh tế - xã hội.
Về mặt kinh tế, quản trị nguồn nhân lực giúp nhân viên phát huy được hết khả năng tiềm tàng, sử dụng hiệu quả tiết kiệm các nguồn lực khác, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp vững mạnh sẽ mang lại rất nhiều nguồn lợi, tác động lên nền kinh tế chung của cả nước. Về mặt xã hội, công tác quản trị nguồn nhân lực mang tính nhân văn về quyền lợi người lao động, đề cao giá trị và vị thế của họ thông qua các chính sách, giao nhiệm vụ, khen thưởng, thỏa mãn không những nhu cầu về vật chất mà còn về tinh thần của người lao động. Đồng thời, quản trị nguồn nhân lực còn giúp cân bằng giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích người lao động, vấn đề nhức nhối luôn tồn tại trong xã hội từ lâu đời.
Việc thỏa mãn nhu cầu của của mỗi người lao động sẽ đem tới niềm vui, hạnh phúc cho họ, lan tỏa tới những người trong gia đình họ, và cuối cùng là tạo ra một xã hội hạnh phúc.2 Khái quát về phát triển nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực, theo quan điểm của Liên hiệp quốc bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Cũng có quan điểm cho rằng phát triển nguồn nhân lực phải nhằm gia tăng giá trị vật chất, tinh thần, cả trí tuệ và tâm hồn, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức, phẩm chất và nhân cách, kể cả cơ chế chính sách của nhà nước đảm bảo sử dụng khai thác, phân bổ, phát huy hiệu quả cao nhất nguồn nhân lực của đất nước.