đặt vấn đề phát triển con ngƣời và nguồn NL trong một cách nhìn toàn diện. 7 Nhƣ vậy, cho đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nói riêng. Ở các mức độ khác nhau, tất cả các giáo trình, các đề tài khoa học, các bài báo, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trên đều đề cập đến vấn đề xây dựng phát triển và quản lý nhân lực một cách chung chung tại các doanh nghiệp, những kết quả nghiên cứu này đã có những giá trị nhất định làm cơ sở cho việc đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý phát triển nguồn NL. Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên còn ít tài liệu nghiên cứu một cách hệ thống về công tác phát triển NL tại một doanh nghiệp công ích.
Đây là một vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu. Do đó, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, em đã lựa chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực ở Công ty TNHH MTV thủy lợi Liễn Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc ” để nghiên cứu, tổng hợp, so sánh, phân tích, đánh giá kết quả thực hiện hoạt động và thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Công ty, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phát triển nguồn NL tại Công ty TNHH MTV thủy lợi Liễn Sơn trong thời gian tới. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn NL trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm có liên quan 1.
Nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực * Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con ngƣời, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Nó thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc, nó bao gồm sức khỏe, trình độ, tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng say mê,… Thực tế đã chứng minh vai trò của con ngƣời trong sản xuất là vô cùng quan trọng, nhân lực là yếu tố trung tâm trong mọi yếu tố khác của sản xuất. Khi không có nhân lực, mọi yếu tố khác sẽ không đƣợc vận hành, sử dụng vào sản xuất. Về ý nghĩa sinh học, nguồn nhân lực là nguồn lực sống, là thực thể thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội.
Mác đã khẳng định: “Trong tính 8 hiện thực của nó, bản chất con ngƣời là tổng hoà các quan hệ xã hội”. Về ý nghĩa kinh tế, nguồn nhân lực là “tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phƣơng, đã đƣợc chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc hoặc vùng địa phƣơng cụ thể”. Theo quan điểm kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của quốc gia hoặc của một tổ chức, là vốn nhân lực. Ở tầm vĩ mô đó là nguồn lực xã hội, ở tầm vi mô đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tƣ cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thế hoạt động và là động lực của tổ chức đó.
Từ góc độ hoạch toán kinh tế, coi đó là vốn lao động, với phần đóng góp chi phí của nguồn vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra. Từ góc độ của kinh tế phát triển, ngƣời lao động trong một tổ chức đƣợc coi là nguồn nhân lực với những khả năng thay đổi về số lƣợng và chất lƣợng của đội ngũ trong quá trình phát triển tổ chức, hay còn gọi là “vốn nhân lực, đƣợc hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của ngƣời lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tƣơng lai so với những lợi ích hiện tại”. * Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Từ khái niệm về nguồn nhân lực, chúng ta có thể hiểu về phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con ngƣời trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồn… Để họ có thể tham gia vào lực lƣợng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho đất nƣớc làm giàu cho xã hội. Ở góc độ vi mô, phát triển nguồn nhân lực là hoạt động đào tạo, nhƣng trên thực tế, phát triển nguồn nhân lực có nghĩa rộng hơn.
Ở góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tƣ nhằm tạo ra nguồn nhân lực xã hội với số lƣợng và chất lƣợng đáp ứng đƣợc 9 nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi trƣờng. Phát triển nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên hai mặt chất và lƣợng: - Phát triển về số lƣợng: là sự gia tăng về số lƣợng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hƣớng phù hợp với môi trƣờng và điều kiện hoạt động mới. Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độ tuổi, cơ cấu khu vực phẩn bổ nhân lực và cơ cấu về giới. - Phát triển về chất lƣợng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ của các thành viên trong xã hội hoặc tổ chức.
Thƣớc đo để so sánh sự phát triển nguồn nhân lực qua các thời kỳ phát triển của một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau là chỉ số phát triển con ngƣời, do Liên hợp quốc sử dụng. Trong mỗi tổ chức, phát triển nguồn NL là việc phát triển về số lƣợng và chất lƣợng thông qua thực hiện các chức năng của công tác phát triển nguồn nhân lực, nhằm có đƣợc một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hƣớng phát triển của tổ chức trong từng thời gian nhất định. Về khái niệm phát triển nguồn NL trong phạm vi tổ chức, tác giả có thu thập một số tài liệu nhƣ: Trong luận án tiến sỹ “Phát triển nguồn NL thông qua giáo dục và đào tạo ở một số nƣớc Đông Á – Kinh nghiệm đối với Việt Nam” (2002) của tác giả Lê Thị Ái Lâm: “ Phát triển nguồn NL là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của ngƣời lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất” [6,tr. Theo “Phát triển nguồn NL thông qua giáo dục và đào tạo, kinh nghiệm Đông Á” của Viện kinh tế thế giới, xuất bản năm 2003 thì: “ Phát triển nguồn NL là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của ngƣời lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất.
Kiến thức có đƣợc nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, 10 trong khi đó thể lực có đƣợc nhờ chế độ dinh dƣỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc ý tế” [29,tr. Từ các khái niệm trên, tác giả xin đƣa ra quan điểm của mình về khái niệm phát triển nguồn NL nhƣ sau: “Phát triển NL bao gồm tất cả các hoạt động nhằm nâng cao thể lực và phẩm chất của ngƣời lao động, đáp wusng nhu cầu sản xuất trong từng thời kỳ”. Phát triển nguồn NL cho doanh nghiệp là phát triển cả về chất lƣợng, số lƣợng và cơ cấu. Luận văn tiếp cận đề tài theo cách này nhƣng đƣợc đánh giá trên các tiêu trí thể lực, tâm lực và trí lực (đạo đức nghề nghiệp) 1.
Quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Quản lý nguồn NL là một trong các nội dung quan trọng của quản lý doanh nghiệp và phát triển nguồn NL. Quản lý nhân lực là một tác động liên tục, có tổ chức đối với nguồn NL vì mục tiêu bảo tồn và phát triển doanh nghiệp bền vững, nhằm đạt tới các mục đích và mục tiêu chung đặt ra của doanh nghiệp. Nội dung chủ yếu của việc quản lý NL là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển dụng , lựa chọn, sử dụng, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nguồn NL của doanh nghiệp thông qua tổ chức đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp. Quản lý NL hay còn gọi là quản lý con ngƣời.
Ta biết rằng tổ chức là một tập hợp gồm rất nhiều cá nhân, gồm nhiều tính cách, thói quen, năng lực đa dạng, khác nhau. Liệu rằng khi tập trung tất cả những điều đó lại vào một tổ chức có xảy ra mâu thuẫn không? Chắc chắn là có. Vậy quản lý NL là gì? Quản lý NL hay quản lý con ngƣời trong một tổ chức là cả một quá trình xây dựng và thực hiện các hành động- những cái tác động đến nhân viên để khơi gợi và sử dụng hiệu quả trình độ và khả năng của mọi cá nhân nhằm giúp tổ chức đạt đƣợc thành công, đạt đƣợc mục tiêu đề ra , tuy nhiên phải đảm bảo rằng lợi ích của từng cá nhân phải đảm bảo, hài hòa với lợi ích của tổ chức. 11 Quản lý nguồn NL là một khâu vô cùng quan trọng trong quản lý doanh nghiệp hiện đại.
Sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp hiện đại chịu sự ràng buộc và ảnh hƣởng của nhiều nhân tố, trong đó một nhân tố quan trọng nhất và cũng là cốt lõi nhất chính là nguồn NL từ lực lƣợng lao động của doanh nghiệp, họ chính là tài sản quý báu nhất trong tất cả các nguồn tài nguyên. Thực tế trong quá trình quản lý, nhiều doanh nghiệp lại chú trọng đến vấn đề thị trƣờng và nguồn vốn mà xem nhẹ quản lý nguồn nhân lực. Vậy nên vấn đề quản lý nguồn NL đang trở thành trở ngại, cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp. Trong công tác quản lý nhân sự truyền thống, thƣờng lấy công việc làm trọng tâm, yêu cầu ngƣời lao động phải thích ứng với công việc, nhất nhất bắt buộc cá nhân phục từng nhu cầu của tổ chức và công việc, mà thƣờng ít quan tâm đến sở trƣờng, sở thích của ngƣời lao động.
Nguồn NL là nhân tố tiên quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, quản lý nguồn NL hiện nay phải xoay quanh yếu tố con ngƣời, tạo điều kiện tối đa để họ phát huy khả năng trong một môi trƣờng hài hòa. Quản lý là phải lấy con ngƣời làm gốc.