CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIÁO DỤC 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực a. Nhân lực Từ nghiên cứu đến lý luận thực tiễn hoạt động kinh tế - xã hội hiện nay cho thấy ở các nước phát triển mặc dù đã có các công nghệ hiện đại, các hệ thống thiết bị tiên tiến ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhưng con người vẫn là một yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động kinh tế - xã hội của tổ chức.
Đã có nhiều cách khác nhau tiếp cận khái niệm nhân lực. Nhân lực chỉ là sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, cả ở mặt tài và mặt đức [1, tr. Có ý kiến cho rằng nhân lực thuần túy là sức lực người lao động thể hiện trên lao động cơ bắp, có ý kiến hiểu nhân lực chỉ người lao động trực tiếp bằng sức lực. Từ đó, hiểu nhân lực là toàn bộ đội ngũ người lao động hiện có trong một tổ chức.
Cách đề cập như thế phần nào mới chỉ phản ánh được tính hình thức của vấn đề nhưng hoàn toàn phiến diện và không mang tính tổng quát. Vì vậy, để có cách hiểu đúng và phản ánh rõ bản chất hoạt động lao động của lực lượng nhân viên trong tổ chức, nhân lực phải được xem là tổng hợp các khả năng về thể lực và trí lực của con người [13, tr. Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực, trí lực và nhân cách của họ được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là toàn bộ tiềm năng của con người về mặt hoạt động kinh tế - xã hội.
Trong cách định nghĩa này các đặc điểm cơ bản nhất của khái Luan van 5 niệm được làm rõ. Lao động con người hay nhân lực phải bao gồm cả khả năng về thể lực và trí lực của một con người cụ thể trong tổ chức. Về nguồn nhân lực cũng được hiểu rõ hơn với tính chất tổng hợp của toàn bộ các cá thể người lao động cả ở hiện tại và tương lai trong một tổ chức [13, tr. Nguồn nhân lực là tất cả các thành viên đang tham gia hoạt động cho tổ chức [21, tr.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia hay một lãnh thổ, một địa phương nhất định đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội [1, tr. Nguồn nhân lực là khái niệm có nội hàm phong phú hơn khái niệm nhân lực. Nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tố về thể chất và tinh thần (phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, học vấn, nghề nghiệp, vị thế xã hội, .) tạo thành năng lực của con người với tư cách chủ thể hoạt động có thể huy động, khai thác để thúc đẩy sự phát triển xã hội. Nguồn nhân lực nói lên tiềm năng của con người cả về lượng về chất [1, tr.
Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng con người, mà trước hết, đó là lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [7, tr. Nguồn nhân lực là lực lượng lao động với thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực, kỹ năng,. hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [16, tr. Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu kinh tế - xã hội đòi hỏi.
Phát triển nguồn nhân lực Phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ Luan van 6 đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn [1, tr. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo mục tiêu về phát triển nguồn nhân lực. Cách hiểu chung nhất của hệ thống Liên hiệp quốc: Đó là sự phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Cách hiểu của các nhà kinh tế: Thường tập trung nhấn mạnh vào khía cạnh nguồn nhân lực gắn với phát triển sản xuất và chỉ giới hạn sự phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm.
UNESCO quan niệm phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước. Theo Cherrington: Giáo dục mang tính chất chung, cung cấp cho học viên các kiến thức chung có thể sử dụng vào trong các lĩnh vực khác nhau, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể. Còn phát triển liên quan đến việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện công việc tốt hơn [8, tr. Phát triển nguồn nhân lực là làm cho con người ngày càng phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình [1, tr.
Phát triển nguồn nhân lực, về thực chất là nâng cao giá trị của nguồn lực con người chủ yếu trên các phương diện thể lực, trí tuệ, năng lực, đạo đức, kỹ năng, thẩm mỹ,. và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng chúng trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cần phát triển cả số lượng, chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong thực tiễn [16, tr. Chức năng đào tạo được gọi một cách phổ biến là phát triển nguồn Luan van 7 nhân lực, phối hợp hoạt động đào tạo và phát triển trong tổ chức.
Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoản thời gian nhất định để tạo ra sự thay đổi về hành vi nghề nghiệp cho người lao động được thực hiện bỡi tổ chức. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực là bao gồm tất cả các hoạt động học tập, thậm chí trong thời gian ngắn. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là tiến hành cung cấp cho người lao động thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu công việc trong tổ chức cũng như mục tiêu. Đào tạo và phát triển được thiết kế để giúp đỡ, hỗ trợ người lao động tiếp tục có những đóng góp tích cực cho tổ chức.
Đào tạo giúp đỡ người lao động hoàn thành công việc thực tại tốt hơn. Phát triển chuẩn bị cho người lao động tương lai, nó chú trọng vào việc học tập và phát triển cá nhân [29, tr. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng lực của người lao động, đảm bảo người lao động trong tổ chức có các kỹ năng, trình độ tay nghề cần thiết, như: hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành; bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ thuật công nghệ cho cán bộ chuyên môn; cập nhật phương pháp quản lý mới, hiện đại cho cán bộ quản lý [21, tr. Năng lực của người lao động Năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn.
Năng lực của người lao động là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người [27, tr. Năng lực mỗi người không giống nhau, nó được hình thành trong quá trình phát triển của con người trong xã hội. Nghĩa là có bao nhiêu hình thức Luan van 8 hoạt động của con người thì có bấy nhiêu loại năng lực. Trong mỗi chuyên ngành còn biểu hiện năng lực ở mỗi góc độ đảm nhiệm khác nhau.
Biết được khả năng của người đó, lãnh đạo sẽ giao nhiệm vụ tương xứng để trong một thời gian nhất định như nhau, họ sẽ hoàn thành công việc tốt hơn những người khác. Việc năng lực có biểu hiện và phát huy được hay không phụ thuộc chủ yếu vào người lãnh đạo, bỡi nếu người lãnh đạo không phát hiện ra và tạo điều kiện cho mầm mống đó phát triển thì sự thui chột khả năng của người đó là điều tất yếu. Động lực thúc đẩy người lao động Động lực là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người suy nghĩ và hành động. Đó chính là sức mạnh thúc đẩy con người hoạt động, chỉ đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân [27, tr.
Động lực thúc đẩy chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định; là những tác động hướng đích của tổ chức nhằm khích lệ người lao động nâng cao thành tích và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả. Động cơ thúc đẩy có thể giúp tuyển dụng và giữ lại được những người lao động có năng lực. Động cơ làm việc có thể được xác định dựa trên cấp độ và sự kiên trì về sinh lực và sự cam kết trong việc thực hiện công việc được giao và các trách nhiệm đối với công việc để công việc được hiệu quả theo chiến lược của tổ chức. Các công cụ khuyến khích nhân viên có thể là các khoản được trả bằng tiền và không phải bằng tiền, có thể áp dụng hình thức khuyến khích cá nhân và nhóm làm việc.
Các phần thưởng gồm hai loại: phần thưởng bên trong và phần thưởng từ bên ngoài. Phần thưởng bên trong là sự Luan van 9 thỏa mãn mà một người cảm nhận được từ việc thực hiện một hành động cụ thể. Phần thưởng bên ngoài được tạo ra bỡi những người khác, chẳng hạng là sự thăng tiến và trả lương cao từ nhà quản lý để động viên người lao động. Các nhà quản lý phải tìm ra nghệ thuật kết hợp giữa các động cơ và các phần thưởng nhằm tạo cho người lao động luôn được thỏa mãn và tham gia vào sản xuất có hiệu quả trong những tình huống khác nhau của tổ chức.
Đặc điểm nguồn nhân lực ngành giáo dục a. Bộ phận nguồn nhân lực có học vấn cao nhất Nguồn nhân lực ngành giáo dục là những người lao động có trình độ khá cao và được đào tạo cơ bản, có hệ thống.