CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO 1. Khái niệm nhân lực - Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động [19;trang11].
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách [13;trang 9] - Nhân lực theo nghĩa đen, chỉ là sức người, sức người bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Không nên hiểu sức người chỉ ở mặt tài mà bao hàm cả mặt đức, đó là cái gốc của con người [10;trang 56] 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định [12, tr. Hoặc theo cách hiểu khác, nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội [12, tr. 7 Theo Liên Hợp Quốc: nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. Ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, theo quan niệm này, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo giáo trình Kinh tế phát triển: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Từ đó, ta có thể tiếp cận khái niệm NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, được sử dụng vào trong quá trình sản xuất để mang lại năng suất lao động cao hơn về mặt kinh tế. Do vậy vốn con người là kết quả của quá trình đầu tư, tích luỹ, nên còn được gọi là tài sản vốn con người.
Vốn con người được hình thành và phát triển qua nhiều kênh, trong đó kênh giáo dục và đào tạo được coi là quan trọng nhất. Theo Human Capital White Paper, NNL là tài sản vô hình của mọi tổ chức. Cơ bản nó là toàn bộ năng lực và sự quyết tâm của mọi người trong một tổ chức; nghĩa là toàn bộ những kỹ năng, kinh nghiệm và tiềm năng của họ đóng góp cho tổ chức đó. Tóm lại, ta có thể hiểu NNL là tổng thể những tiềm năng của con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức, doanh 8 nghiệp.
Hay nói cách khác, NNL nói lên khả năng lao động của con người, được đặc trưng bởi số lượng và chất lượng (về trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, sức khoẻ, năng lực, nhận thức, tư duy, phẩm chất…) của người lao động đáp ứng nhu cầu phát triển của tổ chức. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Theo từ điển tiếng Việt khái niệm phát triển được hiểu là: “Biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội có sự gia tăng về lượng, biến đổi về chất, làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên trong mối quan hệ bổ sung cho nhau tạo nên giá trị mới trong một thể thống nhất đều có thể coi là phát triển. Hiện nay, các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về PTNNL.
Theo UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc) và một số nhà kinh tế sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là sự phát triển kỹ năng lao động và sự đáp ứng yêu cầu của việc làm. Theo ILO (International Labour Organization - Tổ chức Lao động Quốc tế) cho rằng, phải hiểu PTNNL theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Theo Liên hợp quốc thì khái niệm PTNNL bao gồm giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.[8;trang 49] Theo Christian Batal thì PTNNL là phát triển về năng lực và động cơ, năng lực là một khái niệm mới, dần thay thế khái niệm “nghiệp vụ chuyên 9 môn”. Trong khi khái niệm “nghiệp vụ chuyên môn” tương đối “tĩnh” và mang tính tập thể, thì khái niệm năng lực mang tính linh hoạt hơn, là một công cụ sắc bén, nó phù hợp hơn với hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong một thế giới việc làm luôn biến động.
Năng lực, xét theo phạm trù thường dùng nhất, năng lực làm việc tương ứng với “kiến thức”, “kỹ năng”, và “hành vi thái độ” cần huy động để có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng vị trí làm việc. Năng lực được cấu thành bởi: - “Kiến thức” là những hiểu biết chung và những hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể. “Kiến thức” có thể tiếp thu thông qua các phương pháp sư phạm truyền thống: thuyết trình, chứng minh, diễn giảng. - “Kỹ năng” là làm chủ khả năng áp dụng các kỹ thuật, phương pháp và công cụ để giải quyết công việc.
“Kỹ năng” chỉ có thể lĩnh hội được thông qua tình huống thực tế hoặc mô phỏng thực tế. Nói một cách khác, “kỹ năng” chỉ có thể được hình thành thông qua thực làm, cùng với việc áp dụng các phương pháp cụ thể. Do vậy, để đánh giá kỹ năng dựa vào tiêu chí mức độ thành thạo công việc được thực hiện. - “Hành vi, thái độ” là làm chủ thái độ, hành vi của bản thân, làm chủ trạng thái tinh thần của bản thân.
“ Hành vi, thái độ” được hình thành trong cùng một điều kiện như hình thành “kỹ năng”. Nhưng việc học tập các “ hành vi, thái độ” đó trước hết đòi hỏi một tình huống sư phạm tạo thuận lợi cho người học có được ý thức kép, đó là : Ý thức về tầm quan trọng của yếu tố “hành vi, thái độ”; ý thức được rằng, mình chưa nắm vững các năng lực “hành vi, thái độ” để đáp ứng đòi hỏi của vị trí làm việc.[7;trang 26] Đối với nước ta cũng có nhiều quan niệm khác nhau về PTNNL: Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “ PTNNL được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người, trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực., làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất 10 mới và cả đáp ứng được yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế xã hội, của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.TS Trần Xuân Cầu và PGS. TS Mai Quốc Chánh thì PTNNL là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày càng hợp lý. Cả ba mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu trong phát triển nguồn nhân lực gắn chặt với nhau, trong đó yếu tố quan trọng nhất của phát triển là chất lượng của NNL phải được nâng cao.[20;trang19] PTNNL, về thực chất là nâng cao giá trị NNL con người chủ yếu trên các phương diện thể lực, trí lực, tâm lực.và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng chúng trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Như vậy, trọng tâm của PTNNL là phát triển lực lượng lao động một cách tốt nhất, hoàn thiện những điểm còn thiếu sót, chưa hợp lý trong số lượng, cơ cấu lao động của NNL trong tổ chức, cải thiện những yếu kém trong năng lực, phẩm chất của đội ngũ sao cho tận dụng được tối đa năng suất lao động, để tổ chức và cá nhân người lao động có thể thực hiện được các mục tiêu công việc của họ. PTNNL thực chất thể hiện đến vấn đề chất lượng NNL và khía cạnh xã hội NNL của một quốc gia. Ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực trong các cơ sở đào tạo Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các nước cũng như đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với nước ta, từ xuất phát điểm là nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một quốc gia phát triển theo mục tiêu ”dân giàu, nước mạnh” tất yếu phải tiến hành thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa như là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu. Chính vì vậy: 11 PTNNL là con đường giúp cho các cơ sở đào tạo nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. PTNNL có một ý nghĩa đối với sự phát triển của các cơ sở đào tạo, do vậy đặt ra những yêu cầu cao về phương diện về thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý, trong đó nâng cao chất lượng về trí lực (kiến thức, trình độ chuyên môn) và phẩm chất đạo đức (thái độ, hành vi).