CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC 1. KINH TẾ TRI THỨC 1. Khái niệm kinh tế tri thức Thuật ngữ kinh tế tri thức (knowledge economy) được đề cập đầu tiên bởi Fritz Machlup và Peter Drucker vào đầu những năm 1960, dựa trên những nghiên cứu về đóng góp và vai trò của tri thức trong nền kinh tế. Từ đó, thuật ngữ kinh tế tri thức ngày càng được chấp nhận rộng rãi và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện.
Nhiều nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân đã được thực hiện nhằm tìm hiểu và giải thích cơ chế của nền kinh tế này. Tùy theo cách thức tiếp cận mà có nhiều định nghĩa cho khái niệm này. Để làm rõ nghĩa cho thuật ngữ kinh tế tri thức, có thể tiếp cận từ khái niệm của hai thuật ngữ kinh tế và tri thức. Kinh tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia.
Các hoạt động kinh tế thường được chia ra và đánh giá theo ba ngành kinh tế cơ bản: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Một hệ thống kinh tế là một tập hợp các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối các hoạt động kinh tế. Các hệ thống kinh tế thường được nói đến gồm kinh tế truyền thống, kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường, và kinh tế hỗn hợp. Tri thức là những hiểu biết và các kỹ năng mà con người tiếp nhận thông qua nhận thức, kinh nghiệm, quan sát và học tập.
Tri thức được phân loại thành tri thức hiện (explicit knowledge) – tri thức ẩn (tacit knowledge), tri thức chủ quan – tri thức khách quan, tri thức biết – tri thức hành động; hoặc tri thức về sự vật, hiện tượng, tri thức về thế giới, xã hội, con người, tri thức về ai, khi nào, ở đâu, tri thức về kỹ năng và thực tiễn… Tri thức, không như các nguồn lực kinh tế khác, thường được xem là hàng hóa công. Công dụng của tri thức tăng lên theo quy mô trong hoạt động sản xuất, cho thấy đặc trưng và lợi thế của nó so với các nguồn lực khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Như vậy, kinh tế tri thức tiếp cận theo cách hiểu là nền kinh tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy) hoặc nền kinh tế được điều hành bởi tri thức (knowledge-driven economy) là cách tiếp cận cơ bản nhất cho khái niệm này. Kinh tế tri thức nên được hiểu là một hệ thống kinh tế chứ không phải chỉ riêng là một ngành kinh tế cụ thể nào.
Các tổ chức quốc tế đã sớm đưa ra định nghĩa về kinh tế tri thức và cho đến ngày nay vẫn tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện. Theo OECD (1996), nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin. APEC (2000) định nghĩa: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế. WB (1999) định nghĩa: Kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận được tri thức bên ngoài cũng như thích ứng và tạo tri thức cho các nhu cầu riêng của mình.
Powell & Snellman (2004) cho rằng nền kinh tế tri thức dựa trên những hoạt động có hàm lượng tri thức cao, từ đó thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, vì vậy những tri thức hiện hữu cũng nhanh chóng trở nên lỗi thời. Đặc điểm chính của một nền kinh tế tri thức là tăng trưởng sẽ phụ thuộc nhiều vào tri thức của con người nhiều hơn là các yếu tố đầu vào vật chất hay tài nguyên thiên nhiên. Suh & Chen (2007) định nghĩa nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng tri thức như là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, trong đó tri thức được hấp thu, tạo ra, phổ biến, và sử dụng hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nền kinh tế tri thức không nhất thiết phải xoay quanh công nghệ cao và công nghệ thông tin.
Ví dụ, việc áp dụng những kĩ thuật mới trong canh tác nông nghiệp giúp nâng cao sản lượng, chất lượng nông phẩm; hoặc việc sử dụng những dịch vụ logistic hiện đại giúp mở rộng thị trường tiêu thụ đối với những ngành nghề thủ công truyền thống. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Theo Ngô Doãn Vịnh (2013), kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sự phát triển của nó dựa chủ yếu vào tri thức – trí tuệ; tri thức quyết định sự tồn tại và phát triển kinh tế. Đặng Hữu (2004, trang 76) nhận định rằng “kinh tế tri thức là trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất xã hội loài người”, nói về kinh tế tri thức không có nghĩa nói về một hình thái kinh tế – xã hội nào, mà là nói về phương diện lực lượng sản xuất, nói về một xu thế mới: sự phát triển kinh tế đang dựa nhiều hơn vào tri thức và thông tin. Như vậy, có thể hiểu kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó tri thức của nhân loại được tạo ra, phổ biến, hấp thu, vận dụng và không ngừng đổi mới.
Ngày nay, tri thức đang ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng và được sử dụng để tạo ra các giá trị hữu hình cũng như vô hình, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Kinh tế tri thức là sản phẩm của cách mạng khoa học – công nghệ, biểu hiện cho sự phát triển lực lượng sản xuất ở trình độ cao. Của cải, vật chất trong một nền kinh tế tri thức được tạo ra chủ yếu do công nhân tri thức và việc sử dụng công nghệ cao. Tuy nhiên, tri thức không chỉ hoàn toàn là công nghệ; mà tri thức còn phải lan tỏa trong cả văn hóa, xã hội, quản lý và điều hành; phương thức sản xuất dựa trên tri thức thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực của kinh tế tri thức.
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào. Các tư liệu lao động không những là cái thước đo cho sự phát triển sức lao động của con người, mà còn là một chỉ tiêu của những quan hệ xã hội trong đó lao động được tiến hành. Kinh tế tri thức cũng được xem là giai đoạn mới nhất của sự phát triển trong tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu. Các nước phát triển trên thế giới đã chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp trong thời đại công nghiệp, tiếp đến là nền kinh tế hậu công nghiệp và sản xuất hàng loạt vào giữa những năm 1900 tập trung chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ, và cuối cùng là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 nền kinh tế tri thức vào cuối những năm 1900 đến đầu những năm 2000 với sự lớn mạnh của lĩnh vực công nghệ và sử dụng vốn con người.
Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự thay đổi công nghệ một cách mạnh mẽ, nhu cầu cạnh tranh trong đổi mới sản phẩm trên quy mô toàn cầu và sự phát triển của các cộng đồng nghiên cứu (như các trường đại học, phòng thí nghiệm, các cơ sở giáo dục và các tổ chức R&D). Cùng với sự phát triển của xã hội thông tin, tri thức ngày càng được hệ thống hóa và được lan truyền, phổ biến rộng rãi thông qua mạng lưới truyền thông và máy vi tính. Yêu cầu đối với thời đại này là tri thức ẩn, là tri thức mà một người có được một cách tự giác vô thức, bao gồm những kỹ năng để sử dụng và áp dụng những tri thức đã được hệ thống (Nonaka, 1991), và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi liên tục của cả cá nhân lẫn các tổ chức, doanh nghiệp. Do đó, trong kinh tế tri thức, sự đổi mới được dẫn dắt bởi tác động lẫn nhau giữa nhà sản xuất và người dùng trong việc trao đổi cả về các tri thức được hệ thống lẫn các tri thức ẩn.
Mức độ tri thức của nền kinh tế được đo lường thông qua tỷ lệ đóng góp vào GDP của các ngành công nghiệp dựa trên tri thức và tỷ lệ công nhân tri thức trong lực lượng lao động (APEC, 2000). Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức Đặng Hữu (2004, trang 100) chỉ ra rằng “Trong một nền kinh tế tri thức đích thực thì mọi lĩnh vực kinh tế đều trở thành ngành kinh tế dựa vào tri thức chứ không phải chỉ là các ngành công nghệ thông tin, các ngành công nghệ cao. Một đặc trưng quan trọng của kinh tế tri thức là độ tự do của thương mại, đó là sự phát triển các ý tưởng mới, các doanh nghiệp mới, đó là những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, đó là tầm quan trọng của việc học tập suốt đời, đó là vai trò động lực của ICT”. Trong nền kinh tế tri thức, lực lượng lao động đặc biệt được đặc trưng bởi khả năng sử dụng máy tính và kỹ năng được đào tạo tốt trong xử lý dữ liệu, phát triển thuật toán và mô hình mô phỏng, và đổi mới quy trình và hệ thống.
Do đó, nhu cầu về công nhân tri thức bao gồm các nhà khoa học máy tính, kỹ sư, nhà hóa học, sinh học, toán học và nhà phát minh không ngừng gia tăng. Ngoài ra, trong nền kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 toàn cầu, sự kết nối sẽ được xác định bởi các ngành công nghiệp, chế tạo và các chủ thể có liên quan với nhau thông qua kỹ năng, công nghệ cùng như các yếu tố đầu vào thông thường khác. Do đó, tri thức là chất xúc tác và liên kết trong một nền kinh tế hiện đại. Cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt, sự cần thiết cho cơ sở hạ tầng xanh, ngành công nghiệp logistic hướng tới giao hàng đúng lúc, nhu cầu phát triển toàn cầu, chính sách điều chỉnh theo kết quả thực hiện, và một loạt các vấn đề ưu tiên khác được đặt ra dựa trên tri thức; và nghiên cứu trở nên tối quan trọng.