Luận văn thạc sĩ ueh phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn tp hcm giai đoạn 2015 2025

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn tp hcm giai đoạn, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2015

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC

1.1. Kinh tế tri thức

1.1.1. Khái niệm kinh tế tri thức

1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức

1.1.3. Những yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức

1.2. Phát triển nguồn nhân lực

1.2.1. Khái niệm về nguồn nhân lực

1.2.2. Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực

1.2.3. Nội dung phát triển nguồn nhân lực

1.2.4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

1.3. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức

1.4. Các tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức

1.5. Kinh nghiệm của các nước về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức

1.5.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.5.2. Kinh nghiệm của Ấn Độ

1.5.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

1.5.4. Kinh nghiệm của Malaysia

1.5.5. Kinh nghiệm của Singapore

1.5.6. Kinh nghiệm của Thái Lan

1.6. Kinh nghiệm trong nước về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

1.6.1. Kinh nghiệm của TP. Hồ Chí Minh

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM

2.1. Đặc điểm, điều kiện ảnh hưởng đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực của TPHCM

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Tiềm năng kinh tế

2.1.3. Đánh giá chung về tình hình kinh tế – xã hội

2.2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2009-2014

2.2.1. Thực trạng về tiếp nhận tri thức

2.2.2. Thực trạng về tạo ra tri thức

2.2.3. Thực trạng về phổ biến tri thức

2.2.4. Thực trạng về sử dụng tri thức

2.2.5. Thực trạng về đầu tư tri thức

2.3. Đánh giá việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM

2.3.1. Kết quả đạt được

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM GIAI ĐOẠN 2015-2025

3.1. Các quan điểm, định hướng của TPHCM

3.1.1. Quan điểm phát triển nhân lực

3.1.2. Mục tiêu phát triển

3.1.3. Luận chứng phát triển nhân lực TPHCM

3.2. Xu hướng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức

3.2.1. Thách thức

3.2.2. Xu hướng chính về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức

3.3. Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2015-2025

3.3.1. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo thị trường lao động

3.3.3. Giải pháp khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng ICT

3.3.4. Giải pháp phát triển đội ngũ công nhân tri thức

3.3.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách chi cho giáo dục đào tạo

3.3.6. Kiến nghị đối với chính quyền TPHCM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Nguồn Nhân Lực Đáp Ứng Kinh Tế Tri Thức Tại TP

Kinh tế tri thức đang trở thành xu hướng phát triển chủ đạo tại TP.HCM. Để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế này, việc phát triển nguồn nhân lực là rất cần thiết. Nguồn nhân lực không chỉ là lực lượng lao động mà còn là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của thành phố. Việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo sẽ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức.

1.1. Khái Niệm Kinh Tế Tri Thức Và Nguồn Nhân Lực

Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà tri thức đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra giá trị. Nguồn nhân lực trong kinh tế tri thức không chỉ cần có kiến thức chuyên môn mà còn phải có khả năng sáng tạo và đổi mới.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Phát Triển Nguồn Nhân Lực

Phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để TP.HCM có thể cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức. Đầu tư vào giáo dục và đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại TP

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc phát triển nguồn nhân lực, TP.HCM vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Sự thiếu hụt kỹ năng và kiến thức chuyên môn là một trong những vấn đề lớn nhất.

2.1. Thực Trạng Giáo Dục Và Đào Tạo

Giáo dục tại TP.HCM vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc đào tạo nhân lực chất lượng cao. Cần có những cải cách mạnh mẽ để nâng cao chất lượng giáo dục.

2.2. Thiếu Hụt Kỹ Năng Và Kiến Thức Chuyên Môn

Nhiều sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Điều này dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao trong giới trẻ.

III. Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Nguồn Nhân Lực

Để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức, TP.HCM cần áp dụng nhiều phương pháp đào tạo hiện đại. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ giúp sinh viên có được kỹ năng cần thiết.

3.1. Đổi Mới Chương Trình Đào Tạo

Cần thiết phải cập nhật chương trình đào tạo để phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Việc này sẽ giúp sinh viên có được kiến thức và kỹ năng cần thiết.

3.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Doanh Nghiệp Và Trường Học

Hợp tác giữa doanh nghiệp và trường học sẽ giúp sinh viên có cơ hội thực tập và làm việc thực tế, từ đó nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm.

IV. Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Đào Tạo Nguồn Nhân Lực

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Việc áp dụng công nghệ sẽ giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập.

4.1. Sử Dụng E Learning Trong Đào Tạo

E-learning là một phương pháp hiệu quả giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách linh hoạt và thuận tiện. Việc này cũng giúp giảm chi phí đào tạo.

4.2. Phát Triển Nền Tảng Học Tập Trực Tuyến

Nền tảng học tập trực tuyến sẽ giúp sinh viên có thể học tập mọi lúc, mọi nơi. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao trình độ chuyên môn.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Thực Tiễn Tại TP

Nghiên cứu cho thấy rằng việc phát triển nguồn nhân lực tại TP.HCM đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa để đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức.

5.1. Kết Quả Đạt Được Trong Giai Đoạn 2015 2025

Trong giai đoạn này, TP.HCM đã có nhiều chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Những kết quả đạt được đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

5.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Từ Các Nước Khác

Học hỏi từ kinh nghiệm của các nước phát triển sẽ giúp TP.HCM có những giải pháp hiệu quả hơn trong việc phát triển nguồn nhân lực.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại TP

Phát triển nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của TP.HCM trong việc chuyển đổi sang kinh tế tri thức. Tương lai của thành phố phụ thuộc vào việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo.

6.1. Tầm Nhìn Đến Năm 2025

TP.HCM cần có một tầm nhìn rõ ràng về phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trong tương lai.

6.2. Các Giải Pháp Đề Xuất Để Đạt Được Mục Tiêu

Cần có các giải pháp cụ thể và khả thi để phát triển nguồn nhân lực, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của TP.HCM.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn tp hcm giai đoạn 2015 2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC 1. KINH TẾ TRI THỨC 1. Khái niệm kinh tế tri thức Thuật ngữ kinh tế tri thức (knowledge economy) được đề cập đầu tiên bởi Fritz Machlup và Peter Drucker vào đầu những năm 1960, dựa trên những nghiên cứu về đóng góp và vai trò của tri thức trong nền kinh tế. Từ đó, thuật ngữ kinh tế tri thức ngày càng được chấp nhận rộng rãi và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện.

Nhiều nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân đã được thực hiện nhằm tìm hiểu và giải thích cơ chế của nền kinh tế này. Tùy theo cách thức tiếp cận mà có nhiều định nghĩa cho khái niệm này. Để làm rõ nghĩa cho thuật ngữ kinh tế tri thức, có thể tiếp cận từ khái niệm của hai thuật ngữ kinh tế và tri thức. Kinh tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia.

Các hoạt động kinh tế thường được chia ra và đánh giá theo ba ngành kinh tế cơ bản: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Một hệ thống kinh tế là một tập hợp các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối các hoạt động kinh tế. Các hệ thống kinh tế thường được nói đến gồm kinh tế truyền thống, kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường, và kinh tế hỗn hợp. Tri thức là những hiểu biết và các kỹ năng mà con người tiếp nhận thông qua nhận thức, kinh nghiệm, quan sát và học tập.

Tri thức được phân loại thành tri thức hiện (explicit knowledge) – tri thức ẩn (tacit knowledge), tri thức chủ quan – tri thức khách quan, tri thức biết – tri thức hành động; hoặc tri thức về sự vật, hiện tượng, tri thức về thế giới, xã hội, con người, tri thức về ai, khi nào, ở đâu, tri thức về kỹ năng và thực tiễn… Tri thức, không như các nguồn lực kinh tế khác, thường được xem là hàng hóa công. Công dụng của tri thức tăng lên theo quy mô trong hoạt động sản xuất, cho thấy đặc trưng và lợi thế của nó so với các nguồn lực khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Như vậy, kinh tế tri thức tiếp cận theo cách hiểu là nền kinh tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy) hoặc nền kinh tế được điều hành bởi tri thức (knowledge-driven economy) là cách tiếp cận cơ bản nhất cho khái niệm này. Kinh tế tri thức nên được hiểu là một hệ thống kinh tế chứ không phải chỉ riêng là một ngành kinh tế cụ thể nào.

Các tổ chức quốc tế đã sớm đưa ra định nghĩa về kinh tế tri thức và cho đến ngày nay vẫn tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện. Theo OECD (1996), nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin. APEC (2000) định nghĩa: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế. WB (1999) định nghĩa: Kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận được tri thức bên ngoài cũng như thích ứng và tạo tri thức cho các nhu cầu riêng của mình.

Powell & Snellman (2004) cho rằng nền kinh tế tri thức dựa trên những hoạt động có hàm lượng tri thức cao, từ đó thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, vì vậy những tri thức hiện hữu cũng nhanh chóng trở nên lỗi thời. Đặc điểm chính của một nền kinh tế tri thức là tăng trưởng sẽ phụ thuộc nhiều vào tri thức của con người nhiều hơn là các yếu tố đầu vào vật chất hay tài nguyên thiên nhiên. Suh & Chen (2007) định nghĩa nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng tri thức như là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, trong đó tri thức được hấp thu, tạo ra, phổ biến, và sử dụng hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nền kinh tế tri thức không nhất thiết phải xoay quanh công nghệ cao và công nghệ thông tin.

Ví dụ, việc áp dụng những kĩ thuật mới trong canh tác nông nghiệp giúp nâng cao sản lượng, chất lượng nông phẩm; hoặc việc sử dụng những dịch vụ logistic hiện đại giúp mở rộng thị trường tiêu thụ đối với những ngành nghề thủ công truyền thống. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Theo Ngô Doãn Vịnh (2013), kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sự phát triển của nó dựa chủ yếu vào tri thức – trí tuệ; tri thức quyết định sự tồn tại và phát triển kinh tế. Đặng Hữu (2004, trang 76) nhận định rằng “kinh tế tri thức là trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất xã hội loài người”, nói về kinh tế tri thức không có nghĩa nói về một hình thái kinh tế – xã hội nào, mà là nói về phương diện lực lượng sản xuất, nói về một xu thế mới: sự phát triển kinh tế đang dựa nhiều hơn vào tri thức và thông tin. Như vậy, có thể hiểu kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó tri thức của nhân loại được tạo ra, phổ biến, hấp thu, vận dụng và không ngừng đổi mới.

Ngày nay, tri thức đang ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng và được sử dụng để tạo ra các giá trị hữu hình cũng như vô hình, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Kinh tế tri thức là sản phẩm của cách mạng khoa học – công nghệ, biểu hiện cho sự phát triển lực lượng sản xuất ở trình độ cao. Của cải, vật chất trong một nền kinh tế tri thức được tạo ra chủ yếu do công nhân tri thức và việc sử dụng công nghệ cao. Tuy nhiên, tri thức không chỉ hoàn toàn là công nghệ; mà tri thức còn phải lan tỏa trong cả văn hóa, xã hội, quản lý và điều hành; phương thức sản xuất dựa trên tri thức thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực của kinh tế tri thức.

“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào. Các tư liệu lao động không những là cái thước đo cho sự phát triển sức lao động của con người, mà còn là một chỉ tiêu của những quan hệ xã hội trong đó lao động được tiến hành. Kinh tế tri thức cũng được xem là giai đoạn mới nhất của sự phát triển trong tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu. Các nước phát triển trên thế giới đã chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp trong thời đại công nghiệp, tiếp đến là nền kinh tế hậu công nghiệp và sản xuất hàng loạt vào giữa những năm 1900 tập trung chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ, và cuối cùng là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 nền kinh tế tri thức vào cuối những năm 1900 đến đầu những năm 2000 với sự lớn mạnh của lĩnh vực công nghệ và sử dụng vốn con người.

Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự thay đổi công nghệ một cách mạnh mẽ, nhu cầu cạnh tranh trong đổi mới sản phẩm trên quy mô toàn cầu và sự phát triển của các cộng đồng nghiên cứu (như các trường đại học, phòng thí nghiệm, các cơ sở giáo dục và các tổ chức R&D). Cùng với sự phát triển của xã hội thông tin, tri thức ngày càng được hệ thống hóa và được lan truyền, phổ biến rộng rãi thông qua mạng lưới truyền thông và máy vi tính. Yêu cầu đối với thời đại này là tri thức ẩn, là tri thức mà một người có được một cách tự giác vô thức, bao gồm những kỹ năng để sử dụng và áp dụng những tri thức đã được hệ thống (Nonaka, 1991), và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi liên tục của cả cá nhân lẫn các tổ chức, doanh nghiệp. Do đó, trong kinh tế tri thức, sự đổi mới được dẫn dắt bởi tác động lẫn nhau giữa nhà sản xuất và người dùng trong việc trao đổi cả về các tri thức được hệ thống lẫn các tri thức ẩn.

Mức độ tri thức của nền kinh tế được đo lường thông qua tỷ lệ đóng góp vào GDP của các ngành công nghiệp dựa trên tri thức và tỷ lệ công nhân tri thức trong lực lượng lao động (APEC, 2000). Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức Đặng Hữu (2004, trang 100) chỉ ra rằng “Trong một nền kinh tế tri thức đích thực thì mọi lĩnh vực kinh tế đều trở thành ngành kinh tế dựa vào tri thức chứ không phải chỉ là các ngành công nghệ thông tin, các ngành công nghệ cao. Một đặc trưng quan trọng của kinh tế tri thức là độ tự do của thương mại, đó là sự phát triển các ý tưởng mới, các doanh nghiệp mới, đó là những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, đó là tầm quan trọng của việc học tập suốt đời, đó là vai trò động lực của ICT”. Trong nền kinh tế tri thức, lực lượng lao động đặc biệt được đặc trưng bởi khả năng sử dụng máy tính và kỹ năng được đào tạo tốt trong xử lý dữ liệu, phát triển thuật toán và mô hình mô phỏng, và đổi mới quy trình và hệ thống.

Do đó, nhu cầu về công nhân tri thức bao gồm các nhà khoa học máy tính, kỹ sư, nhà hóa học, sinh học, toán học và nhà phát minh không ngừng gia tăng. Ngoài ra, trong nền kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 toàn cầu, sự kết nối sẽ được xác định bởi các ngành công nghiệp, chế tạo và các chủ thể có liên quan với nhau thông qua kỹ năng, công nghệ cùng như các yếu tố đầu vào thông thường khác. Do đó, tri thức là chất xúc tác và liên kết trong một nền kinh tế hiện đại. Cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt, sự cần thiết cho cơ sở hạ tầng xanh, ngành công nghiệp logistic hướng tới giao hàng đúng lúc, nhu cầu phát triển toàn cầu, chính sách điều chỉnh theo kết quả thực hiện, và một loạt các vấn đề ưu tiên khác được đặt ra dựa trên tri thức; và nghiên cứu trở nên tối quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ