CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA NỀN KINH TẾ SỐ 1. Lý luận về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 1. Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 1. Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm "nguồn nhân lực" xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn sách “Phân phối của cải” năm 1893 của Nhà kinh tế tiên phong John R.
Sau đó, khái niệm này được sử dụng và bắt đầu phổ biến hơn trong thế kỷ 19. Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo đó, cách hiểu của các tổ chức quốc tế, quốc gia, giới học giả.trên thế giới cụ thể như sau: Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động” (Hoàng Minh Lợi, 2018, tr.14) Theo Ngân hàng Thế giới (WB) “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân.
Theo đó, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên” (Trần Khánh Đức, 2010, tr.51) Theo Phạm Minh Hạc (2001, tr.269), “nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói 13 chung) bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo Nguyễn Tiệp (2008), “nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”. Theo Trần Kim Dung (2011, tr.1), “nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người.” Theo Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh (2008, tr.
12) “nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem trên hai khía cạnh. Trước hết với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh nguồn lực. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.
Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm song cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, song theo tác giả, NNL là nguồn lực về con người, bao hàm cả số lượng và chất lượng về trí lực, thể lực, tâm lực. NNL là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương nào đó. Nguồn nhân lực chất lượng cao Trong quá trình phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu phức tạp của công việc, đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải có một NNL vượt trội, có khả năng tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả trong công việc, đó chính là NNL CLC. Theo Phạm Minh Hạc (2001), NNL CLC là “đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân lĩnh vực của mình vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa”.
Theo Đàm Đức Vượng (2012) thì: “Xây dựng nhân lực chất lượng cao có nghĩa là xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, 14 tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng đội ngũ doanh nhân quản lý doanh nghiệp, có khả năng tổ chức, khả năng cạnh tranh”. Còn theo Chu Hảo (trích dẫn trong Nguyễn Phan Thu Hằng, 2016): “Nhân lực chất lượng cao trước hết phải được thừa nhận trên thực tế, không phải ở dạng tiềm năng. Điều đó có nghĩa là nó không đồng nghĩa với học vị cao”. Bởi lẽ, có nhiều nhận định cho rằng “những người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ là nguồn nhân lực chất lượng cao” (Hoàng Minh Lợi, 2018, tr.
Với cách hiểu như vậy, đôi khi không phù hợp. Ví như có những người làm về thủ công, mỹ nghệ, nghệ nhân. thì họ có thể không qua trường lớp đào tạo, song với kinh nghiệm lâu năm, họ có thể vẫn được xem là nguồn nhân lực lành nghề, chất lượng cao. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã xác định: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt; luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Dù đứng trên những cách tiếp cận và nhận định khác nhau, nhưng nhìn chung có hai cách hiểu về NNL CLC: Một là, theo cách hiểu định lượng: NNL CLC là những người lao động được đào tạo, có trình độ cao về chuyên môn. Họ là những người được trang bị tri thức, có học vấn, bằng cấp, có kĩ năng làm việc, lành nghề trong chuyên môn. Hai là, theo cách hiểu định tính: NNL CLC là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, tạo ra năng suất lao động hiệu quả, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội. 15 Theo tác giả, NNL CLC là bộ phận nòng cốt của nguồn nhân lực, họ được trang bị kiến thức, có trình độ cao về chuyên môn, có khả năng đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong từng giai đoạn phát triển – xã hội: có kiến thức chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc.
NNL CLC có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải chất lượng. Đặc trưng của nguồn nhân lực chất lượng cao Dưới nhiều góc tiếp cận và nhiều quan điểm khác nhau của nhiều tác giả, song nhìn chung có thể thấy NNL CLC bao gồm những đặc trưng sau: Một là, NNL CLC là đội ngũ nhân lực có trí tuệ hoặc lành nghề, có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Đây là đội ngũ nhân lực có trình độ học vấn cao (từ đại học trở lên) được đào tạo chuyên sâu về một ngành nghề, lĩnh vực nào đó hoặc những người lao động lành nghề, làm thông thạo một ngành nghề nào đó. Trong quá trình học tập, làm việc, họ được đào tạo, giúp họ có thể nắm vững lý thuyết, vận dụng thực hành một cách linh hoạt, có khả năng thích ứng, sáng tạo.
Bên cạnh đó, họ cũng cần được thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ. Hai là, NNL CLC có kỹ năng chuyên môn tốt. Kỹ năng chuyên môn ở đây chính là kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm…, ứng dụng những kiến thức đã được đào tạo vào việc công việc thực tiễn hằng ngày. Những kỹ năng này cần được trau dồi, rèn giũa liên tục, nhất là trong thời đại hiện nay, cần phải trau dồi các kỹ năng như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý, kỹ năng tin học, kỹ năng sáng tạo và sử dụng khoa học công nghệ… Bằng những kiến thức, kỹ năng của mình, người lao động thành thạo, rèn luyện dần trở thành những người có kỹ năng chuyên môn tốt.
Ba là, NNL CLC phải có sức khỏe tốt, tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Bên cạnh kiến thức, kỹ năng, người lao động cần phải có sức khỏe toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, nhằm đáp ứng yêu cầu công việc và đời sống hằng 16 ngày. Thêm vào đó, họ cũng cần là những người gương mẫu, có ý thức, trách nhiệm, có đời sống, văn hóa lành mạnh, có đạo đức nghề nghiệp và tác phong công việc. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao NNL CLC có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia.
Vì vậy, việc tìm kiếm và phát triển NNL chất lượng này cần phải được quan tâm và chú trọng. Theo Swanson (2007, tr. 455 – 457) đã định nghĩa phát triển NNL CLC là “một quá trình phát triển và nâng cao chuyên môn của con người thông qua đào tạo và phát triển và phát triển tổ chức nhằm mục đích cải thiện hiệu suất”. Dưới định nghĩa này, tác giả cho rằng phát triển NNL CLC chính là quá trình phát triển những năng lực của bản thân, nâng cao hiệu quả lao động thông qua giáo dục và đào tạo.
Jacobs và Park (2009) xem học tập là cốt lõi của tất cả để phát triển NNL. Tác giả đã định nghĩa việc học tập tại nơi làm việc là “quá trình được sử dụng bởi các cá nhân khi tham gia vào các chương trình đào tạo, các khóa học giáo dục và phát triển, hoặc một số loại hoạt động học tập trải nghiệm nhằm mục đích đạt được năng lực cần thiết để đáp ứng các yêu cầu công việc hiện tại và tương lai”. (Hoàng Minh Lợi, 2018, tr. Tại hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển NNL CLC thông qua con đường phát triển giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ chính là khâu then chốt để nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển”.
Theo Nguyễn Thanh (2005, tr.