CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động nhóm ở trường mầm non. CHƯƠNG 2: Thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động nhóm ở trường mầm non. CHƯƠNG 3: Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động nhóm ở trường mầm non. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về trẻ khuyết tật và giáo dục cho trẻ khuyết tật. Nói chung hiện nay, tự kỷ đã trở thành “căn bệnh của thời đại” và đã có rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này. Dưới đây, tôi xin tổng hợp những nghiên cứu về vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ phổ tự kỷ từ các nguồn tài liệu của các nước trên thế giới.
Các công trình nghiên cứu về vấn đề này rất đa dạng và được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau. - Nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ rối loạn phổ tự kỷ Năm 1943, bác sĩ tâm thần người Mỹ là Leo Kanner mô tả trong một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance of Effective Contract”. Ông cho rằng RLPTK là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác, không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thường rõ rệt (nói nhại lời, nói lí nhí, không nhìn vào mắt khi giao tiếp),. Kanner nhấn mạnh triệu chứng RLPTK có thể phát hiện được ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 tháng đầu.
Tiếp tục trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu tìm hiểu kỹ hơn về ngôn ngữ trẻ RLPTK. Trong cuốn sách “ Hiện tượng Tự kỷ”, Lorna Wing (1978) đã nêu ra một số đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ tự kỷ như: trẻ không muốn giao tiếp, tiếp xúc, thờ ơ với mọi người xung quanh, không hiểu và đáp lại tình cảm của người khác. Chính những nghiên cứu này đã góp phần đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử giáo dục trẻ RLPTK. - Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 10 Tác giả Kak - Hai - Nodich người Đức đã nêu rõ về ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ở từng giai đoạn.
Trong mỗi giai đoạn nhiệm vụ của người lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ gừ” ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về trí tuệ. Trẻ rối loạn phổ tự kỷ chưa có ngôn ngữ, cưa biết cách giao tiếp, các bậc phụ huynh cần phải bắt đầu công việc can thiệp như: luyện âm, luyện giọng, bổ sung vốn từ, chỉnh sửa ngữ pháp câu cho trẻ. Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực, tác giả đã giúp các bậc phụ huynh có con rối loạn phổ tự kỷ có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và phát triển ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ. Để nâng cao phát triển ngôn ngữ cho trẻ, tác giả Linda Mawhinney - Mary Scott McTeague đã giới thiệu một số biện pháp để giải quyết những trở ngại trong việc phát triển ngôn ngữ.
Muốn trẻ nói được thì việc đầu tiên đó là phải cho trẻ học tiếng, đặc biệt là bắt chước âm thanh. Trong quá trình bắt chước, trẻ sẽ dễ tiếp thu luôn vốn từ và cách sử dụng từ. Bằng cách này, tác giả đã giúp cho phụ huynh trẻ rối loạn phổ tự kỷ biết phương pháp can thiệp và giáo dục cho trẻ tự kỷ phù hợp để trẻ phát triển ngôn ngữ. - Vai trò của hoạt động nhóm đối với việc phát triển ngôn ngữ Để nâng cao khả năng giao tiếp, ngôn ngữ cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội nhằm phát triển ngôn ngữ, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè.
Muốn trẻ nói được thì đầu tiên phải giúp trẻ giao tiếp được, tạo môi trường giao tiếp cho trẻ, phải cho trẻ học, chơi với bạn thì mới nảy sinh nhu cầu nói, ừ đây thấy tầm quan trọng của hoạt động nhóm đối với trẻ RLPTK. Và ông cũng là một trong những người đầu tiên đề cập đến vấn đề Hoạt động nhóm giúp ích trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ RLPTK. 11 Tóm lại, nghiên cứu công tác chăm sóc giáo dục cho trẻ RLPTK là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ. Những công trình nghiên cứu này ở trên thế giới tuy nhiều nhưng chỉ tập trung vào nghiên cứu cách phát hiện, chẩn đoán RLPTK, phương pháp dạy trẻ RLPTK, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu phát triển ngôn ngữ cho trẻ RLPTK thông qua hoạt động nhóm.
Nếu được nghiên cứu sâu đề tài sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình chăm sóc, giáo dục nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ RLPTK. Ở Việt Nam Các nghiên cứu có rối loạn phổ tự kỷ rất đa dạng, ở nhiều lĩnh vực, như y học, tâm lý học trẻ chậm phát triển trí tuệ và trẻ tự kỷ, giáo dục đặc biệt, các nghiên cứu về y học trị liệu, tâm lý học ứng dụng và giáo dục đặc biệt của Việt Nam đã có thành công nhất định trong lĩnh vực còn mới mẻ này. Trong số đó có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ trẻ có rối loạn tự kỷ ở các độ tuổi khác nhau, những công trình khoa học sau vừa là kết quả vừa là thành tựu nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu của Việt Nam về hội chứng tự kỷ, trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non. Ngoài ra còn có các nghiên cứu lý luận về trẻ tự kỷ, can thiệp, giáo dục hòa nhập,quản lý hành vi ở trẻ tự kỷ.
* Nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ rối loạn phổ tự kỷ Nhìn chung, nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ RLPTK ở Việt Nam ới chỉ được bắt đầu vào khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Vì vậy, các nghiên cứu về trẻ RLPTK cũng khá hạn chế. Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh trong cuốn sách “Trẻ tự kỷ - phát hiện sớm và can thiệp sớm”[8] đã nêu ra những vấn đề cơ bản, trong đó cũng đã nêu ra được các đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ RLPTK nhằm giúp các bậc phụ huynh biết cách sớm nhận biết các dấu hiệu của trẻ RLPTK về mặt phát triển ngôn ngữ. * Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển ngôn ngữ dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học.
Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước 12 có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như: Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Lê Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Văn Lê,. đã được in ấn, công bố, xuất bản và áp dụng trong chăm sóc, giáo dục, can thiệp cho trẻ em, sinh viên, học sinh, phụ huynh. Năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương [9] trong công trình “Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ” đã nêu lên được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ qua giao tiếp. Đó là những nền tảng làm cơ sở để giáo dục và phát triển sau này cho trẻ ở tiểu học.
* Vai trò của hoạt động nhóm đối với việc phát triển ngôn ngữ Năm 2008, Tác giả Đào Thu Thuỷ với đề tài “ Xây dựng bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ Tự kỷ tuổi mầm non”[10]. Đề tài có nhắc đến muốn phát triển ngôn ngữ cho trẻ thì có thể tạo môi trường giao tiếp cho trẻ, đặc biệt là thông qua hoạt động nhóm. Nhìn chung, các nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhóm cho trẻ RLPTK ở Việt nam khá ít. Đánh giá chung: Vấn đề trẻ tự kỷ, giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tuổi mầm non đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu sâu và có một số công trình khoa học có giá trị.
Những nghiên cứu chủ yếu đi tìm bản chất của chứng tự kỷ, nguyên nhân nảy sinh, phân loại về chứng tự kỷ và các dạng của phổ tự kỷ, biện pháp phát hiện và can thiệp sớm về y học, tâm lý học lâm sàng, tâm lý học trẻ chậm phát triển trí tuệ và giáo dục đặc biệt cho trẻ thuộc đối tượng này. Nghiên cứu về trẻ tự kỷ ở Việt Nam mới được định hình vào khoảng từ năm 2000 đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu độc lập; nghiên cứu về giáo dục tự kỷ cũng chưa có ứng dụng nhiều trong thực tiễn, đặc biệt là chưa có nghiên cứu sâu về phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhóm cho trẻ RLPTK lứa tuổi mầm non. Cơ sở lý luận của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 -4 tuổi thông qua hoạt nhóm ở trường mầm non 1. Trẻ rối loạn phổ tự kỷ 1.1 Khái niệm, tiêu chí chẩn đoán trẻ rối loạn phổ tự kỷ RLPTK được coi là một rối loạn phát triển não bộ có ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và thiết lập các mối quan hệ xã hội cá nhân.
Hiện nay có nhiều ý kiến còn chưa thống nhất về định nghĩa tự kỷ cũng như mối quan hệ của nó với những khuyết tật thời thơ ấu của trẻ, bao gồm tất cả khó khăn trong học tập cũng như ngôn ngữ. Có rất nhiều những quan điểm, luận thuyết đã được đưa ra về bản chất của tự kỷ. Theo Từ điển bách khoa Columbia (1996): Tự kỷ là một khuyết tật phát triển có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh làm ảnh hưởng đến chức năng cơ bản của não bộ. Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tương tác xã hội và suy luận.
Trẻ nam nhiều gấp 4 lần nữ giới mắc tự kỷ. Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến 30 tháng tuổi sau đó gặp phải một số rối nhiễu trong phổ tự kỷ[58].