Chương 1: Cơ sở lý luận về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4 đến 5 tuổi) thông qua kể chuyện sáng tạo. Chương 2: Thực trạng việc tổ chức phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi tại trƣờng mầm non Sơn Ca, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua kể chuyện sáng tạo tại trƣờng mầm non Sơn Ca, Tam Kỳ, Quảng Nam. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ THÔNG QUA KỂ CHUYỆN SÁNG TẠO 1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Biện pháp Phát triển Ngôn ngữ Theo từ điển tiếng Việt thông dụng của tác giả Nguyễn Nhƣ Ý biện pháp chính là cách làm, cách tiến hành. Phát triển là khuynh hƣớng vận động đã xác định về hƣớng của sự vật: hƣớng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Ngƣời ta có thể sử dụng từ ngôn ngữ để chỉ một hệ thống ký hiệu bất kỳ dùng để diễn đạt, thông báo một nội dung nào đó.
Đôi khi ngƣời ta còn dùng từ ngôn ngữ để chỉ đặc điểm khái quát trong việc sử dụng ngôn ngữ của một tác giả, tầng lớp hay một lứa tuổi hay một phong cách ngôn ngữ cụ thể. Tuy nhiên, theo cách hiểu phổ biến và chủ yếu nhất, ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu bao gồm hệ thống những từ, những âm và quy tắc kết hợp các từ mà những ngƣời trong cùng một cộng đồng sử dụng để giao tiếp với nhau. Phát triển ngôn ngữ thông qua kể chuyện sáng tạo Khi nói về đề tài này, có rất nhiều quan điểm khác nhau. Riêng tôi “biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua kể chuyện sáng tạo” có nghĩa là đƣa ra các biện pháp nhằm phát huy vốn từ của trẻ phát triển khả năng dùng từ ngữ, phong phú và đa dạng vốn từ cho trẻ để làm sao cho trẻ tự do kể chuyện một cách mạch lạc trôi chảy.
Phát huy hết khả năng sáng tạo trong kể chuyện của trẻ. Vai trò và chức năng của ngôn ngữ trong sự phát triển của trẻ 1. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ 1. Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trƣờng xung quanh.
Thông qua các từ ngữ và các câu nói của ngƣời lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tƣơng môi rƣờng xung quanh, hiểu đƣợc những đặc điểm, tính chất, 5 công dụng của của các sự vật hiện tƣợng cùng các từ tƣơng ứng với nó. Từ ngữ và các hình ảnh trực quan cùng đi vào nhận thức của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều sự vật, hiện tƣợng mà trẻ tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày, giúp trẻ hình thành phát triển phong phú các biểu tƣợng và thế giới xung quanh. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tƣ duy.
Ngôn ngữ của trẻ đƣợc phát triển dần theo lứa tuổi trẻ. Điều đó sẽ giúp trẻ không chỉ tìm hiểu những hiện tƣợng, sự vật gần gũi xung quanh, mà còn tìm hiểu cả những sự vật không xuất hiện trực tiếp trƣớc mặt trẻ, những sự việc xảy ra trong quá khứ và tƣơng lai. Trẻ hiểu đƣợc những lời giải thích, gợi ý của ngƣời lớn, biết so sánh khái quát và dần hiểu đƣợc bản chất của sự vật hiện tƣợng, hình thành những khái niệm sơ đẳng. Sự hiểu biết cùng nhận thức của trẻ càng ngày càng rộng lớn, rõ ràng, chính xác hơn và trí tuệ của trẻ cũng không ngừng phát triển.
Ngôn ngữ không chỉ là phƣơng tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mà còn là phƣơng tiện để trẻ biểu hiện nhận thức của mình. Nhờ có ngôn ngữ, trẻ nhận thức đƣợc về môi trƣờng xung quanh và tiến hành hoạt động với nó, đồng thời trẻ cũng sử dụng ngôn ngữ để kể lại, hoặc miêu tả lại sự vật hiện tƣợng và những hiểu biết của trẻ để trao đổi với mọi ngƣời. Ngôn ngữ là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ Ngôn ngữ là phƣơng tiện để giao lƣu xúc cảm và phát triể tình cảm. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất.
Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, đó là phƣơng tiện giúp trẻ giao lƣu cảm xúc với những ngƣời xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Bằng những câu hát hay những vần thơ, những lời nói âu yếm hay vỗ về… đã đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở. Những tiếng ru ầu ơ và mẹ nói chuyện với trẻ là sự giao lƣu cảm xúc và ngôn ngữ đầu tiên. Những cuộc nói chuyện đặc biệt này sẽ làm cho trẻ vui vẻ và có những tình cảm thân thƣơng đối với những ngƣời xung quanh.
Dần hình thành ở trẻ những cảm xúc tích cực. 6 Khi giao tiếp với ngƣời lớn, trẻ tiếp nhận đƣợc những sắc thái tình cảm khác nhau. Qua nét mặt, giọng nói, ngữ nghĩa chứa đựng trong các từ, các câu nói, nét mặt, nụ cƣời khiến trẻ nhận ra hành vi của mình đúng hay sai. Bằng con đƣờng đó, đứa trẻ dần hình thành những thói quen tốt và học đƣợc những cách ứng xử đúng đắn.
Đồng thời, thông qua ngôn ngữ trẻ nhận biết đƣợc những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh nhƣ: những bông hoa, những phong cảnh đẹp với những từ ngữ thể hiện nó. Trẻ sẽ có nhiều ấn tƣợng đẹp, tâm hồn đẹp và có ý thức giữ gìn cái hay cái đẹp. Thông qua ngôn ngữ văn học (thơ, truyện, ca dao, đồng dao…) trẻ cảm nhận dƣợc cái hay cái đẹp trong tiếng mẹ đẻ, những hành vi đẹp trong cuộc sống, trẻ biết những gì nên làm và những gì không nên làm, qua đó rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức nhƣ: Ngoan ,hƣ, tốt, xấu, thật thà, không thật thà… 1. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của cộng đồng Nhờ có những lời chỉ dẫn của ngƣời lớn trẻ dần hiểu đƣợc những quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải thực hiện.
Trƣớc hết là những nề nếp của gia đình, nhóm trẻ, trƣờng mầm non. Sau đó là một số quy định ngoài xã hội, những gì trẻ đƣợc phép làm và không đƣợc phép làm. Mặc khác, trẻ cũng có thể dùng ngôn ngữ của mình để bày tỏ những nhu cầu, mong muốn đối với những thành viên trong cộng đồng, điều đó giúp trẻ dễ hòa nhập với mọi ngƣời. Nhờ có ngôn ngữ thông qua các câu chuyện, trẻ dễ dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hòa nhập xã hội tốt hơn.
Tóm lại: Ngôn ngữ có vai trò rất lớn, là phƣơng tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, giao lƣu với những ngƣời xung quanh, tƣ duy tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, hình thành, phát triển nhân cách trẻ. Chức năng của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ Có hai chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ trong quá trình phát triển ngôn ngữ đó là chức năng giao tiếp và chức năng tƣ duy. Một trong những chức 7 năng cơ bản nhất của ngôn ngữ là giao tiếp, nó đƣợc dùng làm phƣơng tiện chính để giao lƣu và điều chỉnh hành vi của con ngƣời. Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi con ngƣời trao đổi thông tin với nhau không chỉ nhằm mục đích truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử và bản thân thông tin đó cũng không phải là đơn vị tri thức đƣợc đua vào nhà trƣờng.
Song, những sự thay đổi nhƣ vậy lại rất cần cho sự định hƣớng hoạt động của con ngƣời trong mỗi thời điểm hay một tình huống nhất định. Và chính trong những điều kiện này, con ngƣời không có cách nào khác là phải dùng phƣơng tiện ngôn ngữ. Chức năng cơ bản thứ hai của ngôn ngữ là chức năng tƣ duy, nó đƣợc dùng là công cụ của hoạt động trí tuệ, có chức năng thiết lập giải quyết các nhiệm vụ hoạt động trí tuệ của con ngƣời. Nó bao gồm cả việc kế hoạch hóa hoạt động và đối chiếu kết quả hoạt động với mục đích đặt ra.
Nhờ ngôn ngữ mà con ngƣời có thể lập kế hoạch, định ra mục đích cần đạt tới trƣớc khi tiến hành bất cứ công việc gì và kể cả trong khi tiếng hành công việc hoạt động nhận thức. Nhờ có ngôn ngữ mà con ngƣời có thể tổ chức, hƣớng dẫn điều khiển, điều chỉnh đƣợc hoạt động lao động chân tay của mình. Điều đó đem lại cho con ngƣời những thành tựu vĩ đại, khác xa về chất so với động vật. Hai chức năng cơ bản nói trên của ngôn ngữ có mối quan hệ khăn khít với nhau.
Dƣới một góc độ nào đó, chúng ta có thể quy chúng về một chức năng là giao lƣu. Hơn nữa nếu xét vai trò của ngôn ngữ nhƣ một công cụ của hoạt động trí tuệ thì công cụ này đƣợc biểu hiện nhƣ một hoạt động giao lƣu, chỉ khác ở chỗ đó là hoạt động giao lƣu với bản thân mình. Mặt khác, công cụ đó cũng đƣợc bộc lộ nhƣ một hoạt động điều chỉnh hành vi và hoạt động của con ngƣời. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi 1.
Đặc điểm ngữ âm Ở thời kỳ này, trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm: các phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu dần dần đƣợc định vị. Trẻ phát âm đúng hết các âm vị của tiếng mẹ đẻ, kể cả các âm, vần khó. Trẻ đã biết điều chỉnh nhịp điệu, cƣờng độ của giọng nói khi giao tiếp để phù hợp với từng hoàn cảnh, lời 8 nói của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn. Tuy vậy ở lứa tuổi này trẻ nhỏ còn mắc một số lỗi về phát âm, con nhầm lẫn khi phát âm một vài phụ âm và nguyên âm (x-s, ch-t, ƣơ-uô) và thanh điệu (?,~).
Mỗi cháu hay nói sai một âm hoặc một thanh riêng.