Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng hoạt động bão lãnh tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Kĩ thƣơng Việt Nam Chương 3: Giải pháp và kiến nghị về phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Kĩ thƣơng Việt Nam Nguyễn Thị Mai Anh Lớp: K17NHI Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng thƣơng mại Theo điều 361, luật Dân sự Việt Nam: “Bảo lãnh là việc ngƣời thứ ba (gọi là ngƣời bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là ngƣời nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện trả thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là bên đƣợc bảo lãnh) nếu đến thời hạn mà bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên đƣợc bảo lãnh khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”.
Cam kết ở đây đƣợc hiểu là cam kết bảo lãnh bằng văn bản dƣới hình thức thƣ bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh. Thƣ bảo lãnh là cam kết đơn phƣơng của ngân hàng với bên thụ hƣởng. Hợp đồng bảo lãnh là văn bản thỏa thuận giữa ngân hàng với bên thụ hƣởng và bên có liên quan (nếu có). Bảo lãnh ngân hàng đặc biệt hơn so với các dịch vụ tín dụng khác bởi trong quá trình giao dịch, nếu ngân hàng mới chỉ phát hành cam kết bảo lãnh mà chƣa phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán với bên thụ hƣởng, thì có thể coi là dịch vụ thu phí thông thƣờng.
Khi bên đƣợc bảo lãnh vi phạm cam kết với bên thụ hƣởng mà ngân hàng phải thực hiện thanh toán thay, ngân hàng nhận đƣợc phí thanh toán, và bên đƣợc bảo lãnh phải hoàn trả lại cho ngân hàng theo đúng tính chất của một khoản vay, ngân hàng sẽ có thêm khoản thu nhập khác từ lãi. Đặc điểm của nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng thƣơng mại 1. Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc Trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng phải có ít nhất 3 bên tham gia, bao gồm: ngân hàng phát hành bảo lãnh, ngƣời đƣợc bảo lãnh và ngƣời nhận bảo lãnh (ngƣời thụ hƣởng bảo lãnh) Nguyễn Thị Mai Anh Lớp: K17NHI Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng - Ngƣời bảo lãnh: Là ngƣời phát hành thƣ bảo lãnh, thƣờng là ngân hàng, tổ chức tín dụng hay tổ chức tài chính, gọi chung là ngân hàng. Ngân hàng bảo lãnh phải là ngân hàng có uy tín, có khả năng tài chính, đƣợc bên thụ hƣởng chấp nhận.
- Ngƣời đƣợc bảo lãnh: Là khách hàng đƣợc tổ chức tín dụng bảo lãnh. - Ngƣời nhận bảo lãnh: Đƣợc ngân hàng thanh toán khi có yêu cầu do bên đƣợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng.1: Mối quan hệ giữa các chủ thể trên được thể hiện qua sơ đồ sau: Ngân hàng bảo lãnh (2) (3) Ngƣời đƣợc bảo Ngƣời thụ lãnh (1) hƣởng bảo lãnh (1) Mối quan hệ giữa ngƣời đƣợc bảo lãnh và ngƣời nhận bảo lãnh: Đây là mối quan hệ gốc làm cơ sở phát sinh nhu cầu bảo lãnh, đƣợc thể hiện bằng hợp đồng gốc. (2) Mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh với bên đƣợc bảo lãnh. Trên cơ sở hợp đồng gốc, khách hàng gửi đơn yêu cầu bảo lãnh đến ngân hàng yêu cầu phát hành thƣ bảo lãnh cho ngƣời thụ hƣởng và cam kết hoàn trả cho ngân hàng khi ngân hàng đứng ra trả thay cho họ.
(3) Mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và bên thụ hƣởng (nhận) bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh phát hành thƣ bảo lãnh gửi đến ngƣời thụ hƣởng bảo lãnh. Khi ngƣời có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng gốc thì ngân hàng đứng ra thực hiện trả thay cho khách hàng của mình (ngƣời đƣợc bảo lãnh). Nhƣ vậy, ba mối quan hệ trên có quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau và tác động trực tiếp trực tiếp tới quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Và bảo lãnh ngân hàng chỉ có thể hình thành khi tồn tại các mối quan hệ đa chiều.
Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập tương đối Mục đích của bảo lãnh là bồi thƣờng thiệt hại cho bên thụ hƣởng khi bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng cơ sở. Hợp Nguyễn Thị Mai Anh Lớp: K17NHI Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng đồng cấp bảo lãnh phát sinh dựa trên hợp đồng cơ sở, sau đó là thƣ bảo lãnh. Tuy nhiên, có sự độc lập tƣơng đối giữa hợp đồng cơ sở, hợp đồng thỏa thuận và thƣ bảo lãnh. Cụ thể, việc thanh toán bảo lãnh chỉ căn cứ vào điều kiện và điều khoản ghi trong hợp đồng bảo lãnh mà không căn cứ vào hợp đồng cơ sở.
Bên cạnh đó, bên thụ hƣởng có thể không quan tâm ngân hàng phát hành bảo lãnh và bên đƣợc bảo lãnh thỏa thuận những gì, ký kết những hợp đồng nào, có nghĩa vụ và trách nhiệm với nhau ra sao. Bên thụ hƣởng chỉ cần lập và xuất trình bộ chứng từ phù hợp với bảo lãnh thì ngân hàng có trách nhiệm thanh toán vô điều kiện và không đƣợc trì hoãn cho ngƣời nhận bảo lãnh. Đặc điểm này giúp đảm bảo quyền lợi của các bên, ngân hàng cũng tránh đƣợc các tranh chấp giữa bên đƣợc bảo lãnh và bên thụ hƣởng. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động kinh doanh dựa trên uy tín của ngân hàng.
Về bản chất, bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết của ngân hàng về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đƣợc bảo lãnh. Vì vậy, để thực hiện đƣợc vai trò là ngƣời bảo lãnh, ngân hàng phải thỏa mãn những điều kiện bắt buộc. Thời điểm phát hành bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chƣa phải cấp vốn ngay mà sẽ sử dụng uy tín của mình để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận với bên nhận bảo lãnh, giúp bên đƣợc bảo lãnh đủ điều kiện tham gia vào giao dịch cơ sở. Uy tín ở đây là sự tín nhiệm, tin tƣởng của khách hàng đối với ngân hàng.
Nó đƣợc đánh giá dựa trên hai tiêu chí. Một là vị thế của ngân hàng, dựa trên mức độ ổn định hoạt động, chiến lƣợc kinh doanh, hoạt động kinh doanh tập trung vào một vài hay đa dạng hóa lĩnh vực và năng lực quản trị điều hành. Hai là năng lực tài chính. Cụ thể là việc đánh giá khả năng chịu đƣợc lỗ trong kinh doanh dựa trên việc có đáp ứng đƣợc tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cùng với chất lƣợng vốn và lợi nhuận, xem xét mức độ nhạy cảm của nguồn vốn gây ảnh hƣởng lên khả năng duy trì hoạt động và có đáp ứng đƣợc nhu cầu thanh khoản khi gặp những biến động tiêu cực từ thị trƣờng, đánh giá cách ngân hàng tăng trƣởng và thay đổi mức độ rủi ro trong kinh doanh, đánh giá nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ.
Nguyễn Thị Mai Anh Lớp: K17NHI Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 1. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không đƣợc phản ánh trên bảng cân đối kế toán, đƣợc thể hiện dƣới dạng các cam kết thanh toán, trả nợ, cấp tín dụng…hay các hợp đồng phái sinh tỷ giá của ngân hàng với khách hàng trong tƣơng lai và là hoạt động tiềm ẩn tại thời điểm thực hiện nhƣng các hoạt động này có thể ảnh hƣởng đến trạng thái tƣơng lai của bảng cân đối tài sản nội bảng. Bảo lãnh ngân hàng là cam kết có điều kiện của ngân hàng với bên thụ hƣởng. Khác với hoạt động tín dụng, nếu chỉ phát hành bảo lãnh, ngân hàng chƣa phải xuất tiền nên bảo lãnh đƣợc theo dõi ngoại bảng.
Khi phát sinh trách nhiệm trả thay cho ngƣời đƣợc bảo lãnh, ngân hàng sẽ phải theo dõi số tiền đó nhƣ một khoản nợ của bên đƣợc bảo lãnh và đƣợc thể hiện trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Phân loại nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng thƣơng mại 1. Căn cứ theo phương thức phát hành a. Bảo lãnh trực tiếp Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh, trong đó ngân hàng bảo lãnh phát hành bảo lãnh trực tiếp theo yêu cầu của ngƣời đƣợc bảo lãnh (không qua trung gian), ngân hàng cam kết bồi thƣờng không hủy ngang trực tiếp cho ngƣời thụ hƣởng.
Sau khi bồi thƣờng cho ngƣời thụ hƣởng, ngân hàng truy đòi bồi hoàn từ ngƣời đƣợc bảo lãnh. Thông thƣờng, có ba bên tham gia là ngân hàng bảo lãnh, ngƣời đƣợc bảo lãnh và ngƣời thụ hƣởng. Tuy nhiên, khi ngƣời thụ hƣởng là ngƣời nƣớc ngoài, xuất hiện thêm một ngân hàng ở cùng quốc gia với ngƣời đó. Ngân hàng này chỉ đóng vai trò là ngân hàng thông báo, chịu trách nhiệm xác nhận và chuyển tiếp trung thực thƣ bảo lãnh đến bên thụ hƣởng, chứ không đƣợc coi là ngân hàng thanh toán, không chịu trách nhiệm về nội dung thƣ bảo lãnh và các tranh chấp phát sinh.
Nguyễn Thị Mai Anh Lớp: K17NHI Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng Sơ đồ 1.2: Quy trình bảo lãnh trực tiếp Yêu cầu bảo lãnh Ngân hàng phát hành Ngƣời yêu cầu bảo lãnh Phát hành bảo lãnh Hợp đồng cơ sở Ngân hàng thông báo Ngƣời thụ hƣởng bảo lãnh Thông báo BL (1) Hợp đồng gốc kí kết giữa ngƣời đƣợc bảo lãnh và ngƣời thụ hƣởng bảo lãnh (2) Khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành bảo lãnh và cam kết bồi thƣờng (3a) Trƣờng hợp không xuất hiện ngân hàng thông báo, ngân hàng phát hành thƣ bảo lãnh chuyển trực tiếp cho ngƣời thụ hƣởng (3b) Trƣờng hợp có ngân hàng thông báo, ngân hàng phát hành thƣ bảo lãnh chuyển cho ngƣời thụ hƣởng thông qua ngân hàng thông báo b. Bảo lãnh gián tiếp Bảo lãnh gián tiếp là loại hình bảo lãnh, trong đó ngƣời đƣợc bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng thứ nhất (ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng thứ hai (gọi là ngân hàng phát hành) đƣa ra cam kết bảo lãnh và chuyển cho ngƣời thụ hƣởng.