Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghiệp vụ bảo lãnh ở các Ngân hàng thương mại 1. Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng bùng nổ mạnh mẽ ở các quốc gia trên thế giới và doanh số của nó đạt mức kỷ lục. Có thể nó rằng những thương vụ lớn với nước ngoài hiện nay không thể không có một dạng nào đó của bảo lãnh đi kèm.
Hơn nữa, bảo lãnh ngân hàng còn được sử dụng rộng rãi trong hợp đồng thương mại, xây dựng trong nước. Sự tăng trưởng này một phần vì bảo lãnh ngân hàng có thể sử dụng để hỗ trợ cho tất cả các dịch vụ, bao gồm các dịch vụ không mang tính tài chính như thỏa ước thấu chi, thỏa ước tham gia liên doanh, tính bảo hiểm và những cam kết tài chính khác. Vậy bảo lãnh ngân hàng là gì? Có thể hiểu hoạt động bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ ngân hàng, theo đó, NHTM sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của mình cam kết với bên nhận bảo lãnh để bảo lãnh cho bên được bảo lãnh thực hiện một nghĩa vụ đã được quy định từ trước. NHTM chịu trách nhiệm trả tiền theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh khi điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh được đáp ứng.
Trách nhiệm này là không hủy ngang, trừ khi có sự chấp thuận của bên nhận bảo lãnh. Sau khi thanh toán cho bên nhận bảo lãnh, NHTM có quyền truy đòi bên được bảo lãnh và bên được bảo lãnh có nghĩa vụ phải bồi hoàn cho NHTM số tiền đã trả thay Theo Điều 3 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN và Thông tư số 13/2017/TT- NHNN về quy định bảo lãnh ngân hàng, bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh. Theo Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH Luật các tổ chức tín dụng 2017, Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi 4 khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận Một nghiệp vụ bảo lãnh thường có sự tham gia ít nhất đến từ 3 bên: bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh - Bên bảo lãnh (The Guarantor): Là bên phát hành bảo lãnh, thường là sự tham gia của các ngân hàng, TCTD khác được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Bên bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán cho bên thụ hưởng bảo lãnh khi khách hàng được bảo lãnh của mình không thực hiện hoặc thực hiện không đủ với bên nhận bảo lãnh đã cam kết trong hợp đồng - Bên được bảo lãnh (The Principal): Là bên yêu cầu thực hiện bảo lãnh, cụ thể là các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong nước và nước ngoài đáp ứng đầy đủ theo quy định của pháp luật trừ một số trường hợp được nêu rõ trong Quy chế bảo lãnh của NHNN.
Bên được bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh - Bên nhận bảo lãnh (The Beneficiary): Là các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong nước và nước ngoài có quyền thụ hưởng bảo lãnh của các TCTD. Bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu các TCTD đứng ra thanh toán số tiền bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không thực hiện không đủ hoặc không đúng như trong hợp đồng đã ký kết Ngoài ra, có thể có nhiều bên tham gia bảo lãnh trong nhiều hoạt động bảo lãnh khác nhau như bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh,… 1. Đặc điểm Với bản chất là một bảo đảm nghĩa vụ dân sự thì bảo lãnh ngân hàng chứa đựng những đặc điểm sau: - Bảo lãnh ngân hàng là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân: Điều này thể hiện việc bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu trực tiếp bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đã cam kết mà không cần đòi nợ thông qua một tài sản ưu tiên nào khác. Do vậy mà trong trường hợp bên bảo lãnh không có tài sản thì cam kết đó trở nên vô hiệu.
Mối quan hệ giữa các bên tham gia bảo lãnh được mô tả như sau: 5 Bên bảo lãnh Hợp đồng bảo lãnh Cam kết bảo lãnh Bên được bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh Hợp đồng kinh tế Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh Hợp đồng kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Đây là hợp đồng chủ đạo và là cơ sở cho việc hình thành hai hợp đồng bảo lãnh còn lại, đồng thời là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Trong mối quan hệ này, bên được bảo lãnh bắt buộc phải thể hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh. Đó có thể là nghĩa vụ tài chính như nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ đóng thuế,… hoặc nghĩa vụ phi tài chính như nghĩa vụ cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nghĩa vụ bảo hành sản phẩm,… Bên bảo lãnh không có quyền can thiệp vào các thỏa thuận được cam kết trong hợp đồng này mà chỉ có thể đứng trên góc độ phân tích để đưa ra quyết định có chấp nhận mở bảo lãnh hay không.
Hợp đồng bảo lãnh thể hiện mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Đây thực chất là hợp đồng cung cấp dịch vụ hay tài trợ giữa ngân hàng và khách hàng. Hợp đồng này hoàn toàn độc lập với bên nhận bảo lãnh. Ngân hàng chỉ có trách nhiệm thông báo với bên thụ hưởng Cam kết bảo lãnh thể hiện mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Đó là quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng. Cam kết này chính là thông báo của ngân hàng cho bên nhận bảo lãnh về việc chấp nhận bảo lãnh của mình đối với người yêu cầu bảo lãnh. Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán ngay sau khi nhận được yêu cầu của bên thụ hưởng theo đúng yêu cầu thỏa thuận trong thư bảo lãnh mà không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh 6 Phạm vi bảo lãnh có thể là toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên Bên cạnh những đặc điểm trên, hoạt động bảo lãnh ngân hàng cũng có những đặc thù sau: + Về pháp lý, bảo lãnh ngân hàng thương mại là một giao dịch thương mại đặc thù. Tính thương mại của hoạt động này thể hiện ở chỗ, hoạt động bảo lãnh ngân hàng vừa do TCTD thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận, vừa có tính chuyên nghiệp như một nghề kinh doanh.
Do đó để thực hiện hoạt động này thì cần phải đăng kí kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Phân loại, chức năng, vai trò 1. Phân loại bảo lãnh Theo quy định tại khoản 2, điều 58 Luật các TCTD năm 2010 và điều 3, điều 9 TT-NHNN số 28/2012 ban hành quy định về phân loại bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh theo mục đích bao gồm: - Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là hình thức bảo lãnh ngân hàng, theo đó, TCTD lập cam kết bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ tài sản trong hợp đồng cho bên được bảo lãnh, nếu đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của họ đối với bên nhận bảo lãnh. Với tư cách là hình thức bảo lãnh ngân hàng, bảo lãnh ngân hàng khác ở chỗ đối tượng của bảo lãnh thực hiện hợp đồng chính là nghĩa vụ tài sản của khách hàng đối với bên nhận bảo lãnh.
Nghĩa vụ tài sản này phát sinh từ một hợp đồng đã có hiệu lực được giao kết giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh, về nguyên tắc, do TCTD bảo lãnh chỉ có khả năng thực hiện nghĩa vụ thay cho KH được bảo lãnh bằng tài sản của mình chứ không phải bằng việc thực hiện công việc nhất định nên nghĩa vụ được bảo lãnh cũng phải có khả năng tính thành tiền. - Bảo lãnh dự thầu là hình thức bảo lãnh ngân hàng, là cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của bên được bảo lãnh. Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm quy định dự thầu mà không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính dự thầu thì bên bảo lãnh sẽ 7 thực hiện thay. Về lý thuyết, bảo lãnh dự thầu có thể phân biệt với các hình thức bảo lãnh của ngân hàng khác ở các đặc điểm sau đây: Đối tượng của bảo lãnh dự thầu chính là nghĩa vụ tài chính của bên dự thầu đối với bên mời thầu khi tham gia dự thầu.
Các nghĩa vụ tài chính thường bao gồm nghĩa vụ ký quỹ dự thầu, nghĩa vụ nộp tiền phạt do vi phạm quy định dự thầu. Các nghĩa vụ này thường phát sinh do thỏa thuận của các bên hoặc do pháp luật quy định Về chủ thể, bên nhận bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh dự thầu bao giờ cũng là bên mời thầu, còn khách hàng được bảo lãnh bao giờ cũng là bên dự thầu - Bảo lãnh thanh toán là hình thức bảo lãnh do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay thế cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình khi đến hạn. Mục đích của bảo lãnh thanh toán là nhằm tránh tổn thất cho người thụ hưởng trong trường hợp người được bảo lãnh không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền như trong hợp đồng. Các loại bảo lãnh thanh toán: Bảo lãnh thanh toán tiền xây lắp công trình Bảo lãnh thanh toán tiền đặt máy móc, thiết bị - Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm theo hợp đồng là loại hình bảo lãnh do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm khách hàng thực hiện đúng thỏa thuận về chất lượng sản phẩm trong hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh.