CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan bảo lãnh tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm bảo lãnh Hoạt động bảo lãnh đã có từ thời kỳ cổ đại Hy Lạp trong những giao dịch nhỏ lẻ dù rất sơ khai. Từ những năm 60 của thế kỳ XX, bảo lãnh ngân hàng bắt đầu được sử dụng tại các nước Tây Âu và Hoa Kỳ.
Đến những năm 70, thương mại mậu dịch quốc tế ngày càng phát triển đã làm gia tăng nhu cầu đa dang hoá và hợp pháp hoá công cụ tài trợ và bảo đảm quốc tế có tính linh hoạt, được tin tưởng, phù hợp với tập quán quốc tế và không trái với pháp luật quốc gia ngoài phương thức tín dụng chứng từ truyền thống. Đáp ứng được các yêu cầu này, bảo lãnh ngày càng được sử dụng phổ biến trên thế giới. Tại Việt Nam, trước năm 1975 một số ngân hàng thuộc chế độ cũ ở Sài Gòn đã cung cấp dịch vụ bảo lãnh ngân hàng. Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động bảo lãnh được thực hiện từ cuối những năm 80 của thế ký XX trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường.
Đến những năm 90, khi nền kinh tế bắt đầu mở cửa hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động kinh doanh ngân hàng trở nên đa dạng và hoạt động bảo lãnh ngân hàng phát triển như một tất yếu khách quan. Tuy nhiên do thiếu sự chỉ đạo thống nhất bằng các văn bản pháp lý nên ở thời kỳ này hoạt động bảo lãnh chưa thực sự hiệu quả. Từ những năm 1994-1995, hoạt động bảo lãnh dần được hoàn thiện nhờ việc ban hành một số quy định thống nhất. Những năm sau đó, cùng với xu hướng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nước, bảo lãnh ngân hàng đã nhanh chóng phát triển cả về doanh số bảo lãnh và hình thức áp dụng.
Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, cơ hội hợp tác và mở rộng thương mại quốc tế ngày càng nhiều, cùng với đó nhu cầu sử dụng dịch vụ tài chính – ngân hàng ngày càng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động bảo lãnh ngân hàng nói riêng. 7 Trong mối quan hệ kinh tế thương mại, nhờ có bảo lãnh mà tình trạng thiếu vốn của các chủ thể kinh tế được cân bằng, do vậy khái niệm bảo lãnh ngân hàng được xác định: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh”. [1] Trong một bảo lãnh ngân hàng, thường có ít nhất ba thành phần sau: Bên bảo lãnh (ngân hàng bảo lãnh) – The Guarantor: Là NHTM phát hành cam kết bảo lãnh được bên thụ hưởng chấp thuận. Bên được bảo lãnh – The principal: Là khách hàng được NHTM bảo lãnh.
Bên được bảo lãnh có thể là cá nhân hoặc tổ chức, trong hoặc ngoài nước và có đủ điều kiện để được ngân hàng bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh (bên thụ hưởng) – The Beneficiary: Là tổ chức, cá nhân trong hoặc ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của NHTM. Ngoài ra, có thể còn có các bên liên quan khác như: bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, bên bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh… Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những tổn thất của bên nhận bảo lãnh khi đối tác vi phạm cam kết. Trong giới hạn mục tiêu của đề tài, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo lãnh do ngân hàng thương mại phát hành.
Đặc điểm của bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng là nghiệp vụ ngoại bảng, không ảnh hưởng đến nguồn vốn và sử dụng vốn của ngân hàng. Tại thời điểm phát hành, bảo lãnh được hạch toán và ghi nhận ngoại bảng, do thực tế ngân hàng chưa phải sử dụng nguồn vốn để cung ứng cho khách hàng. Tuy nhiên, nếu bảo lãnh quá hạn, ngân hàng phát hành bảo lãnh phải thực hiện thay nghĩa vụ tài chính cho khách hàng thì khi đó, nghĩa vụ bảo lãnh sẽ 8 được điều chuyển hạch toán nội bảng như một khoản nợ xấu (nhóm 3) và ảnh hưởng trực tiếp đến bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau.
Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Đây là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh, được thể hiện dưới dạng các hợp đồng kinh tế, hồ sơ mời thầu…Trong mối quan hệ này, bên được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện cam kết với bên nhận bảo lãnh. Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh: Dựa vào mối quan hệ gốc giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh là NHTM sẽ phát hành cam kết bảo lãnh theo yêu cầu của bên được bảo lãnh. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua Hợp đồng cấp bảo lãnh. Đây là văn bản thoả thuận giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh và các bên liên quan (nếu có) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện bảo lãnh.
Bên được bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã trả thay khi ngân hàng phải thanh toán cho bên nhận bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Bên bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua cam kết bảo lãnh. Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo lãnh của NHTM được phát hành dưới dạng thư bảo lãnh hoặc hơp đồng bảo lãnh.
Bảo lãnh mang tính độc lập và phù hợp: Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập với hợp đồng. Đặc tính này không chỉ giới hạn trong quan hệ giữa các bên liên quan mà còn thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng và người được bảo lãnh. Mặc dù mục đích của cam kết bảo lãnh là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của người được bảo lãnh nhưng việc thanh toán bảo lãnh hoàn toàn chỉ căn cứ vào các điều kiện bảo lãnh.
Khi các điều kiện bảo lãnh được tuân thủ thì ngân hàng không có bất cứ lý do gì để từ chối thanh toán. Điều này cũng thể hiện tính phù hợp của bảo lãnh, khi 9 người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng thanh toán thì ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình. Ngân hàng bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu các chứng từ có dấu hiệu không hợp lệ hoặc những điều kiện bảo lãnh không được đáp ứng. Chức năng của bảo lãnh Chức năng hạn chế rủi ro do thông tin không cân xứng: Trong kinh doanh việc tìm hiểu thông tin về đối tác là rất quan trọng.
Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau như: khoảng cách địa lý, sự khác biệt về tập quán kinh doanh, khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, chi phí về thông tin quá lớn nên luôn tồn tại rủi ro do thông tin không cân xứng. Khi đó, bảo lãnh ngân hàng là một công cụ hiệu quả góp phần giảm thiểu rủi ro do thông tin bất cân xứng giữa các bên, mang lại nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh. Chức năng là công cụ bảo đảm: Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Chức năng này được thể hiện trước hết ở việc bảo đảm sự công bằng về nghĩa vụ và quyền lợi của bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh trong việc thực hiện các cam kết theo hợp đồng đã ký giữa hai bên.
Bên cạnh đó, bằng việc cam kết chi trả khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ, ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự bảo đảm cho bên nhận bảo lãnh. Đây chính là mục đích ra đời của bảo lãnh ngân hàng. Chính sự tin tưởng này tạo điều kiện cho các giao dịch được tiến hành một cách thuận lợi và dễ dàng. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ bù đắp cho bên nhận bảo lãnh những tổn thất gây ra do phía đối tác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ.
Điều này tạo nên sự yên tâm cho bên nhận bảo lãnh trong giao dịch với đối tác. Trên thực tế, do việc thanh toán dựa trên vấn đề vi phạm nghĩa vụ đã cam kết của bên được bảo lãnh, mà các nghĩa vụ này lại có sự giám sát gián tiếp từ phía ngân hàng nên tỷ trọng các bảo lãnh ngân hàng được yêu cầu thanh toán thường không cao. Rõ ràng bảo lãnh ngân hàng như là nhiên liệu bôi trơn góp phần giải phóng những ách tắc trong các giao dịch của nền kinh tế. 10 Chức năng là công cụ tài trợ: Bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ tài trợ về mặt tài chính cho bên được bảo lãnh.
Trong nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh ngân hàng, bên được bảo lãnh được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, tiền nộp thuế… Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn, nhưng với việc phát hành bảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh đã giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi thực hiện cho vay. Với ý nghĩa này, bảo lãnh ngân hàng được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp. Chức năng là công cụ đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ: Chức năng này thể hiện thông qua việc tạo áp lực đối với bên được bảo lãnh trong nỗ lực thực thi các cam kết.