Chương 1: Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh và hiệu quả hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại - Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Bắc Hà Nội - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Bắc Hà Nội, 7 C H Ư Ơ N G 1: T Ổ N G Q U A N V È N G H I Ệ P v ụ B Ả O L Ã N H V À H I Ệ U QUẢ H O Ạ T ĐỘNG BẢO LÃNH TẠ I NGÂN HÀNG TH Ư Ơ N G M Ạ I 1. L ý luận chung về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại 1. K h á i niệm và sự ra đời của nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng • Khái niệm: Trong từ điển pháp luật Mỹ, “bảo lãnh là sự thỏa thuận, theo đó người bảo lãnh chấp nhận sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ, là việc bên bảo lãnh đảm bảo hoặc hứa việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường họp bên có nghĩa vụ không thực hiện”. Luật các TCTD số 47/2010/QH12 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16/06/2010 định nghĩa về hoạt động bảo lãnh ngân hàng như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho to chức tín dụng theo thỏa thuận” [6, tr 10].
Khoản 1 điều 3 Thông tư số 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đày đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”[8, tr2]. Như vậy, trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng có ít nhất 3 chủ thế tham gia, đó là: Bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. 8 Bên bảo lãnh: Trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng, bên bảo lãnh chính là các tổ chức tín dụng.
Điều 3 của Thông tư số 28 nêu rõ bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Bên được bảo lãnh: Chủ thể này chính là các tổ chức, cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không cư trú được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành. Bên nhận bảo lãnh: là tố chức, cá nhân là người cư trú hoặc người không cư trú có quyền thụ hưởng bảo lãnh do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng đã tạo ra mối liên kết trách nhiệm tài chính và san sẻ rủi ro giữa các chủ thể.
Trách nhiệm tài chính trước hết thuộc về khách hàng (bên được bảo lãnh), trách nhiệm của ngân hàng (bên bảo lãnh) chỉ là thứ cấp khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ đối với bên thứ ba (bên nhận bảo lãnh). Mối liên hệ giữa ngân hàng và khách hàng sẽ ràng buộc khách hàng phải thực hiện các cam kết và cũng góp phần hạn chế thiệt hại tài chính cho bên nhận bảo lãnh khi có rủi ro xảy ra do bên được bảo lãnh không thực hiện đúng các cam kết trong họp đồng. • Sự ra đòi của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng: Đôi với hoạt động bảo lãnh, manh nha sự ra đời của nó bắt nguồn từ thời kì trung cổ tại Hy Lạp. Khi đó, bảo lãnh được các cá nhân sử dụng như một công cụ đê phòng ngừa rủi ro trong các hoạt động thương mại và các giao dịch hết sức sơ khai với nhau.
Đen những năm 60 của thế kỷ XX, hoạt động bảo lãnh ngân hàng mới bất đầu xuất hiện ở Mỹ và đến những năm 70 thì nó mới chính thức được sử dụng trong hoạt động thương mại quốc tế. Theo quan điểm của ngành Marketing thì một sản phẩm mới ra đời cần thiết phải có sự hội tụ của 3 yểu tố, đó là: phát sinh nhu cầu, khả năng cung ứng và sự cho phép của luật pháp. 9 Thứ nhất, sự phát sinh nhu cầu bảo lãnh. Sự phát triển của xã hội loài người trong quan hệ thương mại và tín dụng đã làm nảy sinh những nhu cầu mới.
Khi quan hệ thương mại và tín dụng phát triển càng mạnh mẽ, những mối quan hệ chằng chịt phát sinh và thậm chí vượt qua biên giới của mỗi vùng, mỗi quốc gia thì sự thiếu hụt về thông tin và dẫn đến sự thiếu tin tưởng và tín nhiệm của đối tác cũng hình thành. Đương nhiên, sau đó các rủi ro tiềm tàng càng nhiều và khả năng xảy ra tổn thất càng lớn. Do đó, để hạn chế rủi ro trong kinh doanh thì cần có một công cụ để ngăn ngừa nó. Hình thức tín dụng chứng từ (L/C) hay bảo đảm hối phiếu,.
đã hạn chế, kiểm soát rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, các điều khoản khác trong hợp đồng kinh tế cũng cần được bảo đảm thực hiện- đó chính là cơ sở hình thành của hoạt động bảo lãnh. Thứ hai, khả năng cung ứng. Các ngân hàng thương mại với chức năng là trung gian tài chính, tiềm lực tài chính mạnh, có mối quan hệ sâu rộng với mọi thành phần của nền kinh tế nội địa cũng như quốc tế có khả năng cung ứng sản phẩm bảo lãnh cho các thành phần khác nhau của nền kinh tế.
Thứ ba, sự cho phép của pháp luật: Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đế điều chỉnh lĩnh vực hoạt động bảo lãnh. Đối với Việt Nam, khi hệ thống ngân hàng còn duy trì hình thức một cấp, hoạt động bảo lãnh ngân hàng ban đầu được thực hiện qua Ngân hàng Ngoại thương. Sau đó, khi chuyển đổi mô hình từ ngân hàng một cấp thành hai cấp thì hoạt động bảo lãnh đã được nhiều ngân hàng khác triển khai và đẩy mạnh phát triển. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cũng như chặt chẽ trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Chức năng, vai trò và đặc điểm của hoạt động bảo lãnh Ngân hàng 1. Chức năng của hoạt động bảo lãnh ngân hàng Hoạt động bảo lãnh ngân hàng ra đời xuất phát từ nhu cầu phát sinh thực tế của cuộc sống. Khi ra đời, hoạt động bảo lãnh ngân hàng đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo dựng niềm tin giữa các bên. Do vậy có thể khăng định bảo lãnh có những chức năng sau: Thứ nhất, là công cụ bảo đảm.
Có thể nói, công cụ bảo đảm là chức năng quan trọng nhất của hoạt động bảo lãnh. Khi ngân hàng phát hành bảo lãnh, ngân hàng đã cam kết chắc chắn sẽ thực hiện nghĩa vụ chi trả bồi thường cho bên nhận bảo lãnh nếu như khách hàng của mình (bên được bảo lãnh) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các theo họp đồng kinh tế. Do đã có được sự bảo đảm chắc chắn từ phía ngân hàng mà họp đồng kinh tế giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh sẽ diễn ra thuận lợi hon, tạo sự tin tưỏng giữa các bên với nhau. Do đó, bảo lãnh được coi như một công cụ bảo đảm, một chất xúc tác trong việc ký kết các họp đồng kinh tể giữa các bên liên quan.
T h ứ hai, là công cụ tài trợ. Bên cạnh chức năng là công cụ bảo đảm, bảo lãnh cũng là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho bên nhận bảo lãnh. Được ngân hàng bảo lãnh, bên được bảo lãnh sẽ không phải phát sinh luồng tiền đi ra khỏi doanh nghiệp, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ, được kéo dài thời gian thanh toán hàng hóa dịch vụ v.Như vậy, dù bản thân khách hàng (bên được bảo lãnh) không nhận được vốn trực tiếp từ phía ngân hàng như hoạt động cho vay thì bên được bảo lãnh vẫn nhận được những lợi ích về ngân quỹ như trường hợp cho vay. T h ứ ba, là công cụ đôn đốc.
Ngân hàng khi thực hiện phát hành bảo lãnh cũng có nghĩa là đã cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách 11 hàng của mình đối với bên nhận bảo lãnh trong trường hợp xảy ra nghĩa vụ bảo lãnh. Như vậy, trong thời gian bảo lãnh còn hiệu lực, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình, ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các bên thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm của mình. Do đó, hoạt động bảo lãnh chính là một công cụ đôn đốc, giám sát và tăng cường trách nhiệm của các bên tham gia và làm mối quan hệ giữa các bên lành mạnh hơn. V a i trò của bảo lãnh Ngân hàng Đe làm rõ vai trò của hoạt động bảo lãnh ngân hàng cần đứng trên ba giác độ để nghiên cứu.
Đó là bản thân ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế: Đối vói ngân hàng Cùng với các sản phẩm dịch vụ khác, bảo lãnh đem lại thu nhập cho Ngân hàng từ nguồn thu phí (phát hành bảo lãnh, sửa đổi, gia hạn. Bên cạnh yếu tố thu nhập, phát triển hoạt động bảo lãnh cũng là một hình thức làm phong phú, đa dạng các sản phẩm dịch vụ của mỗi ngân hàng, tăng cường khả năng bán chéo sản phẩm. Từ đó, ngân hàng có thể đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn các nhu cầu của khách hàng và thu hút thêm được nhiều khách hàng tiềm năng đến với mình. Tuy nhiên, như đã phân tích ở các phần trên, hoạt động bảo lãnh cũng tiềm ẩn không ít các rủi ro khi phải trả thay nghĩa vụ bảo lãnh.
Cho nên, song song với việc mở rộng và phát triển thì việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với các hoạt động nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng là việc làm rất cần thiết. Đối với khách hàng Bảo lãnh đóng một vai trò tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.