Chương 1: Marketing ngân hàng trong hoạt động bán lẻ của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng marketing trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại SGD - VCB. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện marketing trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại SGD - VCB. 4 CHƯONG1 MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khải niệm ngân hàng thương m ại Các nhà nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế thế giới đều ghi nhận dịch vụ ngân hàng đã xuất hiện từ thời trung cổ, trên cơ sở sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, các hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên phong phú và đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhat cac nhu câu của khách hàng và nên kinh tế. Tuy nhiên, để đưa ra được một định nghĩa về NHTM không phải dễ. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM.
Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: “Được coi là Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Luạt Ngan hàng của An Độ 1950, được bổ sung năm 1959 đã neu. Ngan hang la cơ sơ nhạn cac khoản tiên ký thác đê cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Theo Luật của nước Mỹ, bât kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tien gui cho phép khách hàng rút tiên theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại được xem là một ngân hàng.
Nhà Kinh tế học David Begg định nghĩa “Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có 5 giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi mà dựa vào đó có thể phát hành Séc”. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 do Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nêu: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của Pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là việc nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng. Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về NHTM như sau: NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với các hoạt động chủ yêu là huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các hoạt động dịch vụ khác nhằm một trong các mục tiêu quan trọng là tối đa hóa lợi nhuận. Các hoạt động chủ yế u của ngân hàng thương mại Trải qua quá trình dài phát triên, hoạt động của các NHTM ngày càng đa dạng phong phú song các ngân hàng luôn duy trì ba mảng nghiệp vụ truyền thống, đó là: 1.
Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động đầu tiên, quan trọng của một NHTM vì nhờ đó mà ngân hàng tạo ra nguôn vôn cho hoạt động kinh doanh của mình. Với tư cách là trung gian tài chính, NHTM huy động vốn thông qua nhiêu nguôn và băng nhiêu biện pháp khác nhau như nhận gửi từ khách hàng, vay ngân hàng khác, phát hành giấy tờ có giá. 6 Ớ Việt Nam trong vòng mười lăm năm trở lại đây, huy động vốn qua ngân hàng là một trong những hoạt động cơ bản, quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Đây cũng là một trọng trách của hệ thống NHTM nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động sử dụng von Đây là các hoạt động như cho vay, đầu tư, dự trữ chủ yếu là nhằm mục đích sinh lời và đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng. Trong các khoản mục biểu thị cho hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thì khoản mục cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất, thường vào khoảng 60% - 80% tông tài sản. Thời gian qua, hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, và dưới nhiều hình thức như: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định, cho vay đối với sinh viên, cho vay tiêu dùng, tín dụng thuê mua, tín dụng xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận như khuyến khích sản xuất, tăng sản lượng trong nền kinh tế, tạo thêm việc làm. Hoạt động thanh toán Ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán của mình bằng các dịch vụ thông qua việc mở tài khoản cho khách hàng là các cá nhân và các tố chức.
Ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán thông qua các hình thức như séc, thẻ, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng. Thông qua việc giải quyết các nhu cầu về thanh toán, chi trả mà các ngân hàng thương mại đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, đấy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí lưu thông, do đó góp phần tăng trưởng kinh tế. Nen kinh tê thị trường càng phát triển, hoạt động thanh toán ngày càng hoàn thiện và phát huy hiệu quả thì vai trò của NHTM càng được nâng cao. Hoạt động 7 thanh toán cũng là tiền đề để hỗ trợ các hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn cùng phát triển.
Các hoạt động khác Bên cạnh ba mảng nghiệp vụ truyền thống trên, NHTM còn thực hiện nhiều hoạt động khác như quản lý ngân quỹ, bảo lãnh, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại tệ, vàng, chứng khoán, bảo quản vật có giá, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, các dịch vụ bảo hiểm. HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG M ẠI 1. Khái niệm hoạt động ngân hàng bán lẻ Trong khoảng thời gian gần đây, người ta thường nhắc đến hai thuật ngữ: ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ. về khái niệm hai thuật ngữ này, hiện nay cũng có nhiều quan điểm.
Thứ nhất là cách hiểu truyền thống, coi hoạt động ngân hàng bán buôn tương tự như hoạt động buôn bán các loại hàng hoá thông thường khác đó là cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua các trung gian tài chính (các ngân hàng thương mại, các quỹ.) không cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người sử dụng dịch vụ cuối cùng. Còn hoạt động NHBL được hiểu là hình thức cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người sử dụng cuối cùng không phân biệt theo quy mô lớn hay nhỏ. Theo cách hiểu thứ hai hiện đang được áp dụng ở nhiều nước: Hoạt động ngân hàng bán buôn là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng dành cho các khách hàng doanh nghiệp lớn (kể cả ngân hàng thương mại khác) và hoạt động NHBL là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng dành cho các khách hàng là những cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong phạm vi nghiên cứu ở đề tài này, em tập trung làm rõ khái niệm “hoạt động ngân hàng bán lẻ”.
Thuật ngữ “ ngân hàng bán lẻ” xuất phát từ từ gốc “retail banking” trong tiếng Anh. Mặc dù là khá mới mẻ, khái niệm này không bao hàm về 8 một lĩnh vực mới của hoạt động ngân hàng. Dù ngân hàng có xác định hay không xác định về kế hoạch kinh doanh thì các hoạt động NHBL vẫn luôn tồn tại. Vậy “hoạt động ngân hàng bán lẻ” được hiểu như thế nào? Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về hoạt động bán lẻ.
Theo nghĩa đen trong việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ thông thường thì bán lẻ được hiểu là bán trực tiếp cho người tiêu dùng với sổ lượng ít, nhỏ lẻ. Nó khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho nhà phân phối của hàng hoá đó. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực hoạt động tiền tệ, thuật neữ bán lẻ trong dịch vụ ngân hàng có thể hiểu khác đi một chút với một sổ khái niệm sau: Theo học viện Công nghệ Châu Á —AIT thì hoạt động NHBL là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông. Theo từ điển Ngân hàng và Tin học —Nhà xuất bản Chính trị quôc gia - 1996 thì Retail banking - hoạt động ngân hàng bán lẻ/nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ /dịch vụ ngân hàng bán lẻ - là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, cho vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân.
Theo Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại - Nhà xuất bản chính trị quốc gia thì thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” được đề cập tới như một loại hình ngân hàng chia theo tính chất hoạt động mà loại hình đó “chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ”. Như vậy, từ các cách hiểu trên, có thể đi đến một khái niệm tương đối khái quát về dịch vụ NHBL là: “Hoạt động NHBL là việc cung ứng dịch 9 vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhở thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với dịch vụ ngân hàng thông qua các phưong tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông”. Từ khái niệm trên, ta có the rút ra một số đặc điểm của hoạt động NHBL như sau: 1. Đặc điềm của hoạt động ngân hàng bán lẻ 1.
Số lượng khách hàng lớn Đặc diêm này có thế thấy qua đổi tượng sử dụng dịch vụ NHBL, đó chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhở. Đây thực sự là những đối tượng khách hàng có tiềm năng lớn do dân số trên thế giới ngày càng tăng, thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.