Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện định hướng đổi mới giáo dục theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018, năng lực viết được xác định là một trong bốn trụ cột giao tiếp cốt lõi. Trong đó, văn biểu cảm giữ vai trò đặc biệt nhằm bồi dưỡng đời sống nội tâm, cảm xúc chân thực và năng lực thẩm mỹ cho học sinh. Tuy nhiên, ở lứa tuổi lớp 4 từ 9 đến 10 tuổi, các em thường gặp nhiều trở ngại do vốn sống còn hạn chế, dẫn đến việc tạo lập văn bản còn mang tính khuôn mẫu, sao chép hoặc biểu đạt cảm xúc vay mượn. Nhằm giải quyết điểm nghẽn thực tiễn này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học), mã số 8.01 của tác giả Phạm Thị Linh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Kim Hoa tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên hoàn thành năm 2025, đã nghiên cứu đề tài: "Phát triển năng lực viết văn biểu cảm cho học sinh lớp 4 qua hoạt động trải nghiệm". Công trình đạt mức độ tương đồng kiểm tra qua hệ thống Turnitin là 0%, khẳng định tính trung thực và độc lập. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là xây dựng hệ thống nguyên tắc và biện pháp sư phạm tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với chương trình học, nâng cao chất lượng viết đoạn văn và bài văn biểu cảm. Phạm vi khảo sát và thực nghiệm được tiến hành tại 10 trường tiểu học tiêu biểu trên địa bàn thành phố Nam Định như Tiểu học Chu Văn An, Tiểu học Nguyễn Trãi, Tiểu học Trần Phú trong năm học 2024 - 2025 với sự tham gia của 65 cán bộ quản lý, giáo viên và 235 học sinh. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp gia tăng trên 40% độ chân thực và sinh động trong các bài làm văn của học sinh lớp 4.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng vững chắc của thuyết học tập trải nghiệm do nhà triết học giáo dục John Dewey khởi xướng với chân lý học qua làm, khẳng định tri thức và cảm xúc chân thật chỉ hình thành khi người học tương tác trực tiếp với hoàn cảnh thực tế. Luận điểm này được bổ trợ bởi quan niệm của V. Solovyev về trải nghiệm như sự thống nhất biện chứng giữa tri thức và kỹ năng trong quá trình con người tương tác cùng thế giới khách quan.

Về mặt ngôn ngữ học học đường, đề tài kế thừa các công trình nghiên cứu của Hoàng Phê, Hoàng Hòa Bình và Lê Phương Nga về bản chất của văn biểu cảm. Văn biểu cảm không chỉ là một trong 6 kiểu bài làm văn bắt buộc mà còn là phương tiện bộc lộ tâm tư, tình cảm cá nhân trước cuộc sống. Luận văn xác lập mô hình năng lực viết văn biểu cảm của học sinh lớp 4 dựa trên 3 thành tố cốt lõi:

  • Năng lực lựa chọn và thể hiện cảm xúc, xác định chính xác chủ đề biểu cảm.
  • Năng lực vận dụng ngôn ngữ biểu cảm, phối hợp các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa và hệ thống từ láy gợi cảm.
  • Năng lực tổ chức, cấu trúc đoạn văn hoặc bài viết một cách sáng tạo và mạch lạc.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ 3 khái niệm trọng tâm gồm hoạt động trải nghiệm tiểu học, năng lực biểu cảm ngôn ngữ và dạy học tích hợp liên môn theo định hướng Chương trình 2018.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm độ tin cậy khoa học, đề tài kết hợp chặt chẽ giữa nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Cỡ mẫu điều tra thực trạng được xác định chuẩn xác gồm 65 cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán khối lớp 4 và 235 học sinh lớp 4. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện tại 10 trường tiểu học đại diện cho cả khu vực trung tâm và ven đô của thành phố Nam Định trong năm học 2024 - 2025.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính bằng thống kê toán học là nhằm đo lường chính xác các chỉ số nhận thức, kiểm định độ tin cậy của phiếu hỏi và so sánh đối chứng tương quan điểm số trước và sau tác động sư phạm. Tiến trình nghiên cứu khảo sát hệ thống ngữ liệu dạy viết trong 2 bộ sách giáo khoa Tiếng Việt 4 gồm Cánh Diều và Kết nối tri thức với cuộc sống. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập quy trình dạy học 5 bước gồm: nhận diện kiểu bài, quan sát trải nghiệm, tìm ý và lập dàn ý, thực hành viết văn bản, chỉnh sửa hoàn thiện. Kế hoạch bài dạy được đưa vào thực nghiệm sư phạm đối chứng tại các lớp học thuộc Trường Tiểu học Chu Văn An, Tiểu học Nguyễn Trãi và Tiểu học Trần Phú để kiểm chứng tính khả thi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Dữ liệu điều tra từ 65 giáo viên và 235 học sinh khối lớp 4 đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, nhận thức của giáo viên về hoạt động trải nghiệm còn nhiều điểm nghẽn. Có tới 86,2% giáo viên quan niệm hoạt động trải nghiệm chỉ diễn ra ngoài khuôn viên lớp học và 38,5% cho rằng hoạt động này mang tính ngoại khóa, không thể tích hợp trực tiếp vào tiết học viết văn chính khóa.

Thứ hai, tần suất tổ chức các hình thức trải nghiệm ngôn ngữ còn rất thấp. Chỉ có 15,4% đơn vị duy trì câu lạc bộ văn học thường xuyên, 7,7% tổ chức tham quan dã ngoại định kỳ và 0% trường duy trì hoạt động giao lưu, trò chuyện thường xuyên với nhân vật trải nghiệm. Có tới 84,6% giáo viên cho biết chỉ tổ chức các hoạt động này ở mức độ thỉnh thoảng do hạn chế về thời gian và kinh phí.

Thứ ba, mức độ hiểu biết của học sinh về văn biểu cảm còn chênh lệch lớn. Trong số 235 học sinh tham gia khảo sát, chỉ có 53,2% tương đương 125 em nhận thức đúng văn biểu cảm là thể loại biểu đạt tâm tư, cảm xúc cá nhân. Ngược lại, 46,8% tương đương 110 em còn lại nhầm lẫn văn biểu cảm với văn nghị luận nêu ý kiến (14,5%), văn thông tin cung cấp tri thức (17,5%) hoặc văn tự sự kể chuyện thông thường (14,9%).

Thứ tư, tồn tại khoảng trống đáng kể giữa hoạt động thực tế và sản phẩm viết văn. Khoảng 69,2% giáo viên thừa nhận sự thiếu kết nối giữa trải nghiệm và kỹ năng viết, khiến 76,9% nhận định các hoạt động tập thể mới chỉ dừng lại ở mặt hình thức phong trào mà chưa tác động sâu sắc đến chất lượng tạo lập văn bản.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ việc giáo viên chịu áp lực về tiến độ phân phối chương trình, đồng thời thiếu các kịch bản trải nghiệm ngắn gọn, khả thi ngay trong 35 phút lên lớp. Có tới 76,9% thầy cô thừa nhận vẫn phụ thuộc vào giáo án mẫu sẵn có và chưa chủ động thiết kế ngữ liệu gắn với thực tế đời sống.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày một cách trực quan thông qua bảng ma trận phân phối tần suất và biểu đồ cột so sánh tương quan giữa các nhóm nhận thức của học sinh. Biểu đồ chỉ rõ nếu thiếu đi sự định hướng quan sát và khơi gợi cảm xúc, trên 60% bài viết của học sinh sẽ rơi vào tình trạng rập khuôn, khô cứng. Kết quả này củng cố và làm sáng tỏ thêm luận điểm của các chuyên gia giáo dục tiểu học như Hoàng Hòa Bình và Lê Phương Nga: việc tích lũy ấn tượng từ giác quan là điểm tựa thiết yếu để hình thành cảm xúc nghệ thuật. Khi được trang bị công cụ quan sát thực tế và ghi chép cảm nhận, học sinh sẽ chuyển đổi thành công từ trạng thái tưởng tượng thụ động sang bộc lộ chân thật, giúp bài văn tăng sức truyền cảm và giàu hình ảnh sinh động.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát và thực nghiệm sư phạm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ mang tính hành động cao:

Thứ nhất, tích hợp hoạt động trải nghiệm trực quan ngay trong giờ dạy học đọc hiểu và viết văn. Giáo viên bộ môn Tiếng Việt cần chủ động dành từ 10 đến 15 phút đầu tiết học cho học sinh tiếp xúc vật thật, tranh ảnh sống động, đóng vai hoặc quan sát cảnh quan sân trường. Mục tiêu đặt ra là đạt 100% tiết dạy viết đoạn văn nghệ thuật có kết nối trải nghiệm trực giác, triển khai ngay trong học kỳ 1 năm học 2025 - 2026.

Thứ hai, xây dựng và vận hành câu lạc bộ văn học với chủ đề "Hành trình viết yêu thương". Tổ chuyên môn khối 4 kết hợp cùng Đoàn Đội tổ chức sinh hoạt định kỳ 2 tuần một buổi. Giải pháp này hướng tới nâng tỷ lệ học sinh tham gia trải nghiệm sáng tạo thường xuyên từ 15,4% lên mức 60%, duy trì nền nếp trong suốt năm học.

Thứ ba, tổ chức chuỗi trải nghiệm thực tế "Tôi viết về cuộc sống quanh tôi". Ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm phối hợp đưa học sinh tham quan di tích lịch sử, bảo tàng địa phương hoặc các hoạt động thiện nguyện với tần suất tối thiểu 1 lần mỗi học kỳ. Chỉ tiêu đặt ra là 100% học sinh hoàn thành cuốn nhật ký cảm xúc cá nhân sau mỗi chuyến đi thực tế.

Thứ tư, phát động cuộc thi viết sáng tạo với chủ đề "Lời văn từ trái tim". Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các cụm trường tổ chức định kỳ vào tháng 11 và tháng 3 hằng năm. Mục tiêu nhằm thu hút tối thiểu 85% học sinh khối 4 tham gia, nâng mức điểm số đánh giá về kỹ năng biểu cảm của học sinh tăng từ 1,5 đến 2,0 điểm trên thang điểm 10.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, cán bộ quản lý và chuyên viên phụ trách chuyên môn tiểu học. Công trình cung cấp bức tranh khảo sát thực chứng từ 10 trường tiểu học với 65 cán bộ, giáo viên, làm cơ sở xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phương pháp giảng dạy tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình 2018.

Thứ hai, giáo viên trực tiếp giảng dạy khối lớp 4 tại các trường tiểu học. Thầy cô có thể áp dụng trực tiếp quy trình 5 bước dạy viết gắn với trải nghiệm 15 phút trên lớp, giải quyết dứt điểm tình trạng học sinh thiếu cảm xúc hoặc sao chép văn mẫu.

Thứ ba, giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm. Đây là nguồn tài liệu học thuật quý giá với độ tin cậy cao, tỷ lệ tương đồng Turnitin đạt 0%, hỗ trợ hiệu quả cho việc nghiên cứu phương pháp dạy học phân môn Tập làm văn.

Thứ tư, phụ huynh học sinh có con học tiểu học. Phụ huynh có thể sử dụng các gợi ý quan sát qua 4 giác quan trong luận văn để hướng dẫn con quan sát cuộc sống, ghi chép nhật ký gia đình và bồi đắp vốn sống tinh tế ngay tại nhà.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Hoạt động trải nghiệm phát triển văn biểu cảm có bắt buộc phải tổ chức các chuyến dã ngoại tốn kém ngoài trường học không?
Đáp: Hoàn toàn không. Khảo sát chỉ ra 86,2% giáo viên hiểu nhầm trải nghiệm chỉ diễn ra ngoài trường. Trên thực tế, thầy cô có thể tổ chức quan sát ngay tại vườn trường, lớp học hoặc tổ chức đóng vai tình huống trong 10 đến 15 phút tiết học Tiếng Việt mà vẫn mang lại cảm xúc chân thật cho học sinh.

Hỏi: Đâu là khó khăn lớn nhất của học sinh lớp 4 khi tạo lập đoạn văn biểu cảm?
Đáp: Khó khăn lớn nhất là học sinh chưa phân biệt được văn biểu cảm với các kiểu văn khác, khi có tới 46,8% trong tổng số 235 em bị nhầm lẫn với văn kể chuyện hoặc văn nghị luận. Điều này khiến bài làm thiên về liệt kê chi tiết bề ngoài thay vì bộc lộ cảm xúc sâu sắc.

Hỏi: Làm thế nào để phân hóa đối tượng học sinh khi tổ chức viết văn qua trải nghiệm?
Đáp: Giáo viên phân chia nhiệm vụ theo 3 mức độ năng lực cụ thể. Nhóm trung bình tập trung dùng từ láy và bộc lộ cảm xúc trực tiếp, trong khi nhóm khá giỏi được yêu cầu vận dụng linh hoạt ít nhất 2 biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa và liên tưởng sâu sắc qua quan sát đa giác quan.

Hỏi: Thang đo năng lực viết văn biểu cảm của học sinh lớp 4 dựa trên những tiêu chí cốt lõi nào?
Đáp: Thang đo gồm 3 tiêu chí trọng tâm: khả năng xác định đối tượng và bộc lộ cảm xúc chân thành, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ biểu cảm giàu hình ảnh với ít nhất 2 biện pháp nghệ thuật, cùng khả năng bố cục bài viết mạch lạc, sáng tạo theo quy trình chuẩn.

Hỏi: Giáo viên có thể sắp xếp thời lượng nào trong tiết học để tổ chức hoạt động trải nghiệm?
Đáp: Giáo viên có thể linh hoạt sử dụng 10 đến 15 phút trong tổng số 35 đến 40 phút của tiết viết đoạn văn. Khoảng thời gian này dành cho việc quan sát vật thật, thảo luận nhóm nhanh hoặc ghi chép ấn tượng ban đầu trước khi học sinh bắt tay vào lập dàn ý và viết bài.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Linh là công trình nghiên cứu công phu, giải quyết thỏa đáng vấn đề nâng cao chất lượng dạy học văn biểu cảm ở bậc tiểu học. Năm điểm đóng góp cốt lõi của công trình gồm:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về năng lực viết văn biểu cảm gắn với thuyết học tập trải nghiệm của John Dewey cho học sinh lứa tuổi từ 9 đến 10.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực trạng toàn diện từ 65 giáo viên và 235 học sinh tại 10 trường tiểu học ở thành phố Nam Định, chỉ rõ điểm nghẽn nhận thức và thực hành.
  • Đề xuất 4 nhóm biện pháp sư phạm giàu tính ứng dụng, từ tích hợp trong giờ đọc hiểu đến câu lạc bộ và cuộc thi viết chuyên đề.
  • Xác lập quy trình dạy học 5 bước khoa học, giúp học sinh chuyển hóa triệt để trải nghiệm trực quan thành ngôn từ giàu cảm xúc nghệ thuật.
  • Đạt chuẩn mực liêm chính học thuật xuất sắc với tỷ lệ tương đồng 0% qua phần mềm Turnitin, hoàn thành bảo vệ vào năm 2025.

Về lộ trình tiếp theo, các giải pháp cần được nhân rộng tại các trường tiểu học trong giai đoạn 2026 - 2027 nhằm đánh giá tác động trên diện rộng. Các nhà trường và giáo viên hãy chủ động đổi mới phương pháp, đưa trải nghiệm thực tiễn vào từng trang viết để khơi dậy ngọn lửa cảm xúc chân thành trong tâm hồn mỗi học sinh.