CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÝ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về phát triển năng lực tự học của học sinh Ở thế giới vào những năm 70, các tác giả Luconhin X. (1997) [41], với hệ thống lí thuyết dạy học đã xác định tính chất nhiều yếu tố của hoạt động dạy học và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố, đặc biệt nổi lên mối quan hệ của người dạy và người học.
Trên cơ sở đó đã nghiên cứu đưa ra những KNTH cần thiết nhằm đảm bảo cho người học đạt kết quả cao. (1973) [27] trong cuốn “Học tập hợp lý” đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng NLTH, tự nghiên cứu cho sinh viên năm thứ nhất. Ông chỉ rõ, học tập ở đại học là quá trình phát triển con người, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố và việc hoàn thành có kết quả của từng nhiệm vụ học tập đòi hỏi phải đấu tranh bản thân và tập thể một cách có phê phán và đầy sáng tạo trong quá trình học tập. (1979) [16] đề cập đến việc nâng cao KNTH cho giờ lên lớp và xem đó là cách thức tốt nhất để phát huy tính tích cực của HS trong học tập.
Theo các tác giả Brow (1994), Weinet (1983) và Helmke (1995), việc học tập rèn luyện của người học bị phụ thuộc vào những điều kiện như: Nguồn tri thức vốn có; tạo tình huống học tập, rèn luyện; làm xuất hiện, phát huy yếu tố chủ động, tự giác, tíchcực trong học tập, rèn luyện. Như Weinet đã viết [38, tr.132]: Tính hiệu quả (của việc học tập) hầu như phụ thuộc vào người học và sự khác biệt cá nhân của họ. Nhà tâm lý học Mỹ Carl Roger (2001) [28] đã cho ra đời cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” trong đó trình bày chi tiết, tỷ mỉ với dẫn chứng minh họa và thực nghiệm về các phương pháp dạy học để hình thành KNTH cho sinh viên như: Cung cấp tài liệu, dùng bảng giao ước, chia nhóm dạy học, hƣớng dẫn cho người học cách nghiên cứu tài liệu, tự xem xét nguồn tài liệu, tự hoạch định mục tiêu, tự đánh giá việc học của mình. Crowe (2010) [39] đã biên tập các tác phẩm trong bộ sách sưu tập Thúc đẩy giáo dục các môn khoa học xã hội thông qua phương pháp tự học, cung cấp các nghiên cứu về TH trong lĩnh vực khoa học xã hội, đồng thời cũng cung cấp các NL, KNTH với một ví dụ về cách TH có thể được sử dụng để xem xét nội dung các khía cạnh cụ thể của thực tiễn giảng dạy.
Mary Lynn Hamilton (2014) [44] trong cuốn sách: “Tự học trong đào tạo giáo viên”, đề cập đến một loạt các vấn đề xung quanh thực tiễn giảng dạy tự học. Ở Việt Nam, TH đã trải qua một giai đoạn phát triển nghiên cứu lâu dài cả về lý luận và thực tiễn, những thành quả nghiên cứu về hoạt động TH cũng rất phong phú. Ở 5 từng giai đoạn lịch sử khác nhau, tùy thuộc vào cách tiếp cận mà quan niệm về NLTH có sự khác nhau. Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng trong đường lối Giáo dục - Đào tạo.
Nghị quyết TW 4 (khoá VIII) chỉ rõ [6, tr.15]: “Phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS NL tư duy sáng tạo, NL giải quyết vấn đề”. Thái Duy Tuyên (2001) [35] trong cuốn “Giáo dục học hiện đại” đã bàn đến một cách sâu sắc vấn đề bồi dưỡg NLTH cho HS. Trong lĩnh vực dạy học ở các bộ môn, nhiều công trình nghiên cứu cũng đề cập đến việc hình thành NLTH cho sinh viên thông qua các tài liệu hướng dẫn học và quy trình sử dụng chúng trong dạy học. Điển hình là Trần Bá Hoành (2003) [11] đã xây dựng các kĩ thuật thực hiện các phương pháp tích cực, trong đó có các kĩ thuật xây dựng và sử dụng phiếu học tập Những năm cần đây có một số luận văn như: “xây dựng tài liệu và hướng dẫn sử dụng theo mô đun phần quang hình học - vật lí 11 góp phần bồi dưỡng NLTH cho học sinh” của tác giả Nguyễn Minh Phúc (2015) [25], “tổ chức dạy học chương "động lực học chất điểm", vật lí 10 theo hướng phát triển NLTH của học sinh” của tác giả Phạm Hoài Thu (2016) [29], các tác giả luân văn này đã đưa ra khái và các thành tố của NLTH cần phát triển cho HS, từ đó các tác giả đã xây các mô đun và các phiếu hỗ trợ HS tự học môn vật lí THPT, và các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS.
Chúng tôi cho rằng các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về NLTH đã cho thấy các tác giả đã xem xét TH một cách tương đối toàn diện như: Vai trò của TH, NLTH, những biện pháp tổ chức hoạt động dạy học nhằm nâng cao hiệu quả TH của người học. NLTH được các tác giả quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau, chủ yếu ở một số khía cạnh sau: NLTH được xem như là điều kiện bên trong, quan trọng để nâng cao kết quả học tập; làm rõ khái niệm và bản chất của NLTH, phân loại và mô tả chúng; xây dựng quy trình và cách xác định các biện pháp hình thành NLTH, từ đó vận dụng để bồi dưỡng các KN cụ thể thụộc NLTH. Việc phát tiển NLTH của HS được xem xét trong mối quan hệ với quá trình dạy học được tổ chức dưới sự điều khiển của GV thông qua hệ thống các bài tập nhận thức nhằm thự hiện các nhiệm vụ học tập. Những nghiên cứu về kiểm tra – đánh giá năng lực tự học của học sinh Từ những năm 50 cho đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào một số nội dung chính như làm sáng tỏ chức năng KTĐG tri thức người học đối với việc góp phần phát huy tính tích cực, tự lực, độc lập, hứng thú của người học trong hoạt động học tập; tìm ra các hình thức ĐG tri thức thích hợp với từng loại đối tượng người học, từng môn học, việc này được thể hiện rất rõ trong công trình nghiên cứu của V.Palonxki với công trình "Những vấn đề dạy học của việc đánh giá tri thức"; F.
Pêrôvxki với công trình "Cơ sở lý luận và 6 thực tiễn của kiểm tra tri thức"; X.Uxôva với "Con đường hoàn thiện của việc kiểm tra đánh giá tri thức, kĩ năng" tiếp tục nghiên cứu và khẳng định vai trò của KTĐG đối với việc củng cố, hoàn thiện tri thức của người học [21], [22], [37]. Hiện nay, xu hướng ĐG mới của nền GD thế giới là ĐG theo NL (Competence base assessment). Đã có một số quốc gia, như Anh, Phần Lan, Australia, Canađa. và một số tác giả như B.
Wolf…, quan tâm nghiên cứu về ĐG NL. Ở Australia, Hội nghị giữa Hội đồng giáo dục Australia và các Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo - Việc làm các bang của Australia (9/1992) đã đưa ra kiến nghị coi phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong bảy NL then chốt (Key competencies). Đặc biệt, trong những năm đầu thế kỷ XXI, hơn 60 nước trong tổ chức OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đã thực hiện chương trình ĐG Quốc tế PISA (Programme for International Student Assessment) cho HS phổ thông ở lứa tuổi 15. PISA không kiểm tra nội dung chương trình học trong nhà trường phổ thông mà tập trung ĐG NL vận dụng tri thức vào giải quyết các tình huống đặt ra trong thực tiễn.
Từ cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX ở Việt Nam, hoạt động đổi mới ĐG được chú ý nhiều hơn. Các trung tâm ĐG ra đời ở các Viện nghiên cứu và một số trường Đại học, Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ GD & ĐT được thành lập. Nhiều công trình lý luận chung về ĐG, đặc biệt là phương pháp và kĩ thuật ĐG được nghiên cứu và bước đầu áp dụng ở tất cả các cấp học của hệ thống giáo dục phổ thông. Ngày nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện quá trình KTĐG tri thức của người học.
Các tác giả đã khẳng định vấn đề KTĐG kết quả dạy học như một phạm trù của lý luận dạy học, là một khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học, vì vậy phải coi trọng và thực hiện tổ chức KTĐG một cách khách quan và khoa học. Thái Duy Tuyên [36] đã nêu hệ thống các chức năng KTĐG bao gồm: chức năng phát hiện, điều chỉnh, chức năng củng cố, phát triển trí tuệ và chức năng giáo dục. Các chức năng này có quan hệ chặt chẽ với nhau và thuộc phương diện sư phạm. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều cho thấy rằng chỉ khi nào việc KTĐG KQHT được tổ chức đúng đắn thì mới có tác dụng đối với quá trình dạy học từ đó giúp GV tổ chức toàn bộ quá trình dạy học một cách căn bản và hợp lý đồng thời làm cho người học thấy được mình cần phải làm gì trong việc nắm vững tri thức, kích thích và thúc đẩy việc học tập có hệ thống.
Năng lực tự học vật lí của học sinh trung học phổ thông 1. Khái niệm tự học Theo Lê Khánh Bằng [2], “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các NL trí tuệ, các phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định”. Theo Nguyễn Cảnh Toàn [30], “Tự học hiểu theo đúng bản chất là tự mình động 7 não, suy nghĩ, sử dụng các NL trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các phương tiện) cùng các phẩm chất, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê… để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Theo Thái Duy Tuyên [36]: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,.
của người học” Theo Đặng Thành Hưng [14, tr. 4-7; 21], “Tự học là chiến lược học tập cá nhân độc lập, không phụ thuộc trực tiếp vào người dạy hay học chế nhất định, do người học tự mình quyết định và tự nguyện tiến hành học tập kể từ mục đích, nội dung, cách thức, phương tiện, môi trường và điều kiện học tập cho đến kế hoạch và nguồn lực học tập.