CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1. Tổng quan nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho sinh viên trong dạy học theo học chế tín chỉ Nghiên cứu về NLTH nói chung và phát triển NLTH cho SV trong dạy học theo HCTC nói riêng được nhiều nhà khoa học giáo dục và tâm lý học ở trong nước và trên thế giới nghiên cứu. Nghiên cứu về tự học và năng lực tự học Trên thế giới, vấn đề tự học và năng lực tự học trong dạy học đã sớm được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu.
Từ thời cổ đại, ở Phương Đông đã có nhiều nhà giáo dục lỗi lạc như Khổng tử (551- 479 TCN), Mạnh Tử (372 – 289) đặt ra yêu cầu đòi hỏi người học phải tự suy nghĩ, cố gắng tìm hiểu để nắm bắt tri thức. Ở Phương Tây, nhiều nhà giáo dục đã bàn luận đến tự học và năng lực của người học như J.Comenski (1592 – 1670), tác giả có những định hướng giá trị về dạy học phải phát triển mạnh mẽ năng lực nhận thức của người học, làm bùng lên ngọn lửa khát khao tri thức, nhiệt tình say mê học tập. Tác giả đã đưa ra được những định hướng trong công tác dạy học phải làm sao để người học thích thú với học tập và không ngừng nỗ lực bản thân để chiếm lĩnh tri thức và trong dạy học GV phải bồi dưỡng cho người học “tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn” [7 ,Tr. Đến thế kỷ XVIII, Petxtalogi (1746 – 1827), nhà giáo dục Thụy sĩ cho rằng mục đích của giáo dục là phát triển tiềm năng của con người.
“Trí tuệ của người học được phát triển trong quá trình hoạt động tư duy của của cá nhân, chứ không phải lĩnh hội máy móc qua ý nghĩa của người khác” [38]. Tác giả đánh giá sự phát triển về thể chất và trí tuệ của người học là quá trình phát triển liên tục, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và qua quá trình tự học, tự tư duy của cá nhân. Tác giả đã nêu lên một quan điểm lớn trong giáo dục đó là 12 muốn đạt được mục tiêu giáo dục không phải bằng sự áp đặt của những người làm công tác giáo dục lên người học mà phải bằng chính sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của chính bản thân mỗi cá nhân. Thế kỷ XIX, V.Lênin (1870 – 1924): Phát triển quan điểm của Karl Marx, Lênin khẳng định nhiệm vụ của nhà trường phải vũ trang cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học cơ bản, hệ thống hiện đại, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ năng lực nhận thức và thanh niên phải ra sức học tập, “học, học nữa, học mãi”.
Mục đích để thế hệ trẻ phải tự mình nắm vững kho tàng tri thức của nhân loại [8]. Đến thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, các tác giả J.Freud…đề cao vai trò và khuyến khích, tạo điều kiện cho người học thực hiện việc học thông qua cách thức và kinh nghiệm học, tự thể hiện và chịu trách nhiệm về hành động cũng như kết quả học tập của chính mình. Học thuyết tiến bộ của J.Dewey được áp dụng trong trường thực nghiệm thuộc đại học Chicago, ông cho rằng đã đến lúc các vấn đề của học phần phải phụ thuộc vào người học [38]. Tác giả đã đặt trách nhiệm của việc học vào bản thân người học, không ai có thể thực hiện việc tự học thay bản thân người học được.
Nhà trường thông qua hành động sư phạm để rèn luyện cho người học khả năng và phương pháp học tự lực. Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong mỗi người học.Lubixona đã khái quát phương pháp học tập của SV trong trường đại học bao gồm: nghe và ghi bài; đọc và ghi tài liệu; chuẩn bị semina; thi, kiểm tra; tổ chức lao động khoa học trí tuệ và kế hoạch làm việc. Hai tác giả đã đề cập rõ: tự học của SV đại học đó là những cách thức tự học cụ thể, đến nay phương pháp tự học này có giá trị định hướng giúp cho người học tìm ra cách học phù hợp với bản thân.Retzke và một số tác giả người Đức trong cuốn sách “học tập hợp lý” đã nêu rõ học tập ở đại học là quá trình phát triển con người, không ai có thể làm thay được người học và người học phải chủ động tiếp thu và tích lũy hiểu biết, đây là nhiệm vụ quan trọng của tự học [65].Rabakin khi đề cập đến tự học của người học trong cuốn sách “tự học như thế nào ?”, ông nêu rõ “mỗi người phải biết tự nâng cao trình độ hiểu biết văn hóa bằng cách tự tìm lấy kiến thức theo cách của mình” [64, Tr 20], tất cả phương pháp tự tìm ra kiến thức, chung quy gọi là phương pháp tự học. Mỗi cá nhân phải tự tổ chức việc học của mình sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Người học theo cách riêng của cá nhân nhưng thường xuyên trao đổi kiến thức với nhau, còn gọi là “thảo luận chung” để phổ biến cách học của mình cho người khác. Tác giả đã đánh giá được vai trò quan trọng của kiến thức chuyên môn rất cần thiết trong cuộc sống vì mỗi người cần có một nghề để sống và tạo ra của cải cho xã hội để tồn tại. Vì vậy, để có thể phân biệt được những vấn đề thường xuyên xảy ra xung quanh thì con người cần tự học. Tự học giúp con người biết so sánh kiến thức trong sách và thực tế trong cuộc sống.
Tác giả cũng phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa việc tự học và đặc điểm riêng của từng cá nhân. Việc tiếp thu kiến thức trong cuộc sống cần có sự đấu tranh, vượt khó khăn thì mới có vinh quang, đồng thời có năng khiếu mà không rèn luyện, học tập thì năng khiếu cũng không phát triển. Trong cuốn sách “nền giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng Châu Á – Thái Bình Dương”, tác giả Raija Roy Singh cho rằng đặc điểm của xã hội phát triển là một xã hội dựa vào tri thức; kiến thức là sức mạnh và giáo dục là trung tâm của xã hội ấy. Tác giả xác định rõ mục đích của giáo dục là đào tạo ra những con người “hiếu học và một xã hội học tập thường xuyên”, trong đó người học vừa là chủ thể, đồng thời cũng là mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục.
Sự học là do người học tự chỉ đạo, theo phẩm chất cá nhân của mỗi người. “Chính trong hoạt động học, người học tiếp thu tri thức và vận dụng tri 14 thức mà lòng ham học được kích thích và cũng chính từ đó khả năng học tập độc lập được phát triển”. [66, Tr 115] Tác giả Patrix Penpen có quan niệm “thày dạy – trò học” là hai phạm trù có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tác giả phân tích tính độc lập tương đối của mỗi phạm trù, người dạy và người học có phương pháp riêng.
Người dạy có phương pháp dạy, người học có phương pháp học. Phương pháp học của người học là phải tự xác định được phương thức học, tự bồi dưỡng cho mình và không ai có thể làm thay được [38]. Ở Việt Nam, từ năm 1070, có nhiều tư liệu nói về cách học của giám sinh khi học ở Quốc Tử giám (trường đại học đầu tiên của Việt Nam), cụ thể phương pháp học của người học chủ yếu là nghiên cứu. Năm 1945 cùng với việc khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các trường đại học trong cả nước đã tổ chức các hội nghị học tốt, dạy tốt, nhằm mục đích vận động xây dựng phong cách học tập mới, xác định đúng đắn động cơ, thái độ và phương pháp học tập cho SV.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều ý kiến để hướng dẫn về cách học và tự học, Người chỉ rõ ‘lấy tự học làm nòng cốt”, người đề cao tinh thần học tập chủ động, người học “phải biết tự động học tập” và “muốn học tập có kết quả thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng” [15, Tr 94 - 97]. Người đã nêu nguyên tắc trong tự học là học đến đâu, thực hành và luyện tập đến đó. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kim chỉ nam và là kinh nghiệm sâu sắc mang giá trị to lớn cho các thế hệ mai sau. Những năm 1960 có nhiều quan điểm, tư tưởng giáo dục của Việt Nam có đề cập đến tự học như “học để hành, hành để học, “học tích cực, chủ động sáng tạo, tự học, tự rèn luyện” [16, Tr 67].
Từ năm 1960 đến 1990, tư tưởng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo được phát triển mạnh mẽ ở một số trường đại học. Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường trong cuốn sách “luận bàn về kinh nghiệm tự học”, và “tự học như thế nào” bằng kinh nghiệm tự học thành công của mình đã quan niệm tự 15 học gần với tự đào tạo, tự học thường xuyên và suốt đời với nội dung “sự học là gì ?”, “phương pháp học”, yếu tố trở lực, điều kiện và phương tiện của tự học [40, Tr 10 - 17]. Các tác giả chia tự học thành hai mức độ. Mức độ một là tự học có hướng dẫn, đây là hình thức tự lực của người học để chiếm lĩnh tri thức thông qua sự tổ chức, hướng dẫn của GV thông qua tài liệu tham khảo.
Mức độ hai là tự học hoàn toàn, ở mức độ này người học tự nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu từ mạng internet, sách, báo, tạp chí. Tác giả Thái Duy Tuyên khi nghiên cứu về tự học, tác giả đã liệt kê các hoạt động cần phải có của người học trong quá trình tự học như quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, rèn luyện kĩ năng, đồng thời tác giả cũng lưu ý đến động cơ, tình cảm của người học nhưng mới chỉ dừng lại ở khái niệm hành động chứ chưa phân tích cụ thể, mô tả hành động tự học diễn ra như thế nào và GV phải tăng cường hướng dẫn tự học cho người học [41]. Tác giả Trần Bá Hoành khi bàn về hoạt động tự học, tác giả xây dựng các dấu hiệu của người tự học như: Người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp.