CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC “TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC” CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ 7 1. Một số vấn đề chung 1. Các khái niệm cơ bản 1. “Tự chủ và tự học” Tự chủ là từ ngữ được khá nhiều người nổi tiếng định nghĩa, điển hình là nhà giáo dục Henri Holec, ông định nghĩa tự chủ của người học là khả năng người học chịu trách nhiệm về việc học của chính mình.
Theo quan điểm của ông, chịu trách nhiệm học tập của một người học là phải có và chịu trách nhiệm cho tất cả các quyết định liên quan đến tất cả các khía cạnh học, bao gồm cả việc xác định mục tiêu, xác định nội dung và tiến trình, lựa chọn phương pháp học, giám sát và đánh giá quá trình học (Holec, 1981). Để chịu trách nhiệm cho việc học của mình, người học cần phải hợp tác với giáo viên và các học sinh khác. Tự chủ của người học đặc biệt quan trọng trong học Địa lí. Dickinson (1995) đưa ra 5 lý do cho việc thúc đẩy sự tự chủ của người học trong việc học ngôn ngữ: động lực, lý do thực tế, sự khác biệt cá nhân, mục tiêu giáo dục và cách học Địa lí.
Ở một góc nhìn khác, Dam (1995) xem tự chủ là sự sẵn sàng chịu trách nhiệm về việc học của mình để phục vụ cho nhu cầu và mục đích của mình. Mỗi HS luôn luôn chủ động trong việc tìm tòi, khám phá, tiếp thu những kiến thức mới về các hiện tượng tự nhiên và hiện tượng KT – XH; Từ đó, đánh thức trí tò mò của HS trong học tập phân môn Địa lí, tạo sự hứng thú trong học tập, nhằm rèn luyện và phát huy năng lực TC&TH cho HS là cách hiểu về TC&TH Địa lí. Năng lực và năng lực tự chủ và tự học (TC&TH) a. Năng lực Khái niệm năng lực theo Benrd Meier, Nguyễn Văn Cường (2002): “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các 10 nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở vận dụng hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”.
Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018): “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. Thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”[4]. Theo từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[32].
Theo Cosmovici: “Năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”[4]. Trên cơ sở các định nghĩa, khái niệm của nhiều tác giả, có thể hiểu năng lực như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm vui, ý chí… năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.Những biểu hiện của năng lực TC &TH Tự lực: Biết chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống; không đồng tình vơi những học sinh sống dựa dẫm, sống ỷ lại. Tự khẳng định và bảo vệ nhu cầu chính đáng: Hiểu biết về quyền, nhu cầu cá nhân; biết phân biệt quyền, nhu cầu chính đáng và không chính đáng. Tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình: Nhận biết tình cảm, cảm xúc của bản thân và hiểu được ảnh hưởng của tình cảm, cảm xúc đến hành vi.
11 Biết làm chủ tình cảm, cảm xúc để có hành vi phù hợp trong học tập và trong đời sống; không đua đòi, ăn diện lãng phí, nghịch ngợm, càn quấy; không làm những việc xấu. Biết thực hiện kiên trì kế hoạch học tập, lao động. Tự định hướng nghề nghiệp Nhận thức được sở thích, khả năng định hướng của bản thân. Hiểu được vai trò của các hoạt động kinh tế trong đời sống xã hội.
Nắm được một số thông tin chính về nghành nghề ở địa phương, nghành nghề thuộc các lĩnh vực sản xuất chủ yếu; lựa chọn được hướng phát triển phù hợp sau THCS. Tự học, tự hoàn thiện: Tự đặt mục tiêu học tập để nỗ lực phấn đấu thực hiện. Biết lập và thực hiện kế hoạch học tập; lựa chọn được các nguồn tài liệu học tập phù hợp; lưu giũ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt, bằng bản đồ, khái niệm, bảng, các từ khóa; ghi chú bài giảng của giáo viên theo các ý chính. Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi được gặp giáo viên, bạn bè góp ý, chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác, khi gặp khó khăn trong học tập.
Biết rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân hướng tới giá trị xã hội. Như vậy “Năng lực tự chủ và tự học là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập” c. Nội dung của năng lực “tự chủ và tự học” Địa lí Không chỉ tiếp thu những kiến thức mới, còn HS phải tự rèn luyện cho mình những kỹ năng cần thiết khi làm việc với các dạng bài tập liên quan tới biểu đồ, bảng số liệu, lược đồ, tập bản đồ địa lí và các châu lục.là đặc thù phân môn Địa lí, vì vậy để học tốt môn này cần phải có hoạt động TC&TH. 12 Như vậy “năng lực TC&TH Địa lí là khả năng thực hiện thành công hoạt động TC&TH Địa lí nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức về phương pháp TC&TH, vận dụng thành thạo các kĩ năng TC&TH và hình thành động cơ, thái độ TC&TH đúng đắn”.
Kiến thức về phương pháp TC&TH phân môn Địa Lí Kiến thức về phương pháp TC&TH là: “những hiểu biết nói chung về các hoạt động TC&TH của phân môn Địa lí”. * Nhóm kỹ năng TC&TH Địa lí Để HS phổ thông có năng lực TC&TH Địa lí cần rèn luyện và phát triển cho các em các kĩ năng TC&TH ở trên lớp và ở nhà. Bởi vì năng lực TC&TH có quan hệ mật thiết với kĩ năng TC&TH. Nếu năng lực TC&TH là thuộc tính tâm lí, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố thì kĩ năng TC&TH là những hành động riêng lẻ của hoạt đông tự học do HS thực hiện trong học tập phân môn Địa lí., bao gồm kĩ năng (KN) sau: HS có KN tự làm việc với các tài liệu học tập; HS có KN nghe giảng kết hợp với tự ghi chép; HS có KN phát hiện, giải quyết và trình bày vấn đề; HS có KN tư duy (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…); HS có KN tự ôn tập củng cố kiến thức; kĩ năng tự KT đánh giá [23 ].
Thái độ đối với hoạt động TC&TH phân môn Địa Lí Thái độ đối với năng lực TC&TH Địa lí bao gồm: HS có nhu cầu học tập, thái độ, đạo đức, PC (như niềm say mê, ý chí, lòng quyết tâm, tính kiên trì, tinh thần vượt khó, ý thức trách nhiệm…) trong học tập. GV sẽ trang bị cho HS kiến thức, kỹ năng về phương pháp học tập phân môn thông qua rèn luyện các kĩ năng TC&TH. Như vậy mối quan hệ giữa năng lực với kiến thức, kĩ năng và thái độ được thể hiện như sau: “năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nên HS cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng, thái độ có được vào giải quyết những tình huống nhằm chiếm lĩnh tri thức”. Như vậy, để hình thành năng lực cùng với thái độ, giá trị, trách nhiệm của bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ học tập thì có thể nói kiến thức là cơ sở.
Định hướng phát triển năng lực TC&TH Việc định hướng phát triển năng lực TC&TH Địa lí trên cơ sở hình thành năng lực TC&TH cho HS, GV thường xuyên tiến hành luyện tập giúp HS nhận thức sâu sắc kiến thức về phương pháp tự học, vận dụng thành thạo các kĩ năng và có sự say mê tích cực trong học tập. Tác động sư phạm này sẽ làm năng lực của HS thay đổi theo hướng tích cực. Qua khảo sát bước đầu chúng tôi thấy rằng HS ở cấp THCS hầu hết chưa có điều kiện để được rèn luyện năng lực tự học do đó trong khuôn khổ của luận văn tác giả đề cập đến các biện pháp chủ yếu để hình thành và phát triển năng lực TC&TH cho HS. * Thang năng lực: Năng lực của mỗi cá nhân là một phổ từ bậc thấp như nhận biết 1.
Phân loại năng lực Năng lực phân làm 2 loại: năng lực chung và năng lực đặc thù của địa lí. Năng lực chung: - Năng lực tự chủ và tự học: 14 - Năng lực giao tiếp và hợp tác. Năng lực đặc thù của địa lí: - Năng lực nhận thức khoa học Địa lí. - Năng lực tìm hiểu địa lí.
- Năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng đã học. Các thành tố năng lực TC&TH trong dạy học phân môn Địa lí 7 ở các trường THCS 1. Tài liệu học tập Tài liệu học tập phân môn Địa lí bao gồm: SGK, tập bản đồ thế giới và các châu lục, các tài liệu tham khảo khác (trong đó SGK là tài liệu học tập cơ bản cho HS). Để HS có năng lực tự làm việc với SGK phân môn Địa lí, GV phải giúp HS hiểu được vai trò tác dụng cũng như cấu trúc của SGK.