mở đầu là khái niệm Đại số ở THCS), trong tạp chí giáo dục, tác giả nghiên cứu năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề theo hai nhóm năng lực phát hiện vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề trong học Toán [18]. Năm 2016, trong luận văn Rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học ứng dụng dấu tam thức bậc hai ở trường Trung học phổ thông đã nghiên cứu về một số biện pháp nhằm năng cao năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học ứng dụng dấu của tam thức bậc hai trong chương trình lớp 10 trung học phổ thông [13]. Về ứng dụng của CNTT trong dạy học Toán THCS, có thể kể đến Nguyễn Bá Kim - Đào Thái Lai - Trịnh Thanh Hải (2008), Dạy học hình học với sự hỗ trợ của phần mềm Cabri Geometry, NXB ĐH Sư Phạm [14]. Các tác giả trong nước đã nghiên cứu một số khía cạnh của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trên cơ sở vận dụng vào một số phân môn của Toán học.
Tuy nhiên, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán vào năm 2018 thì năng lực giải quyết vấn đề toán học cùng bộ công cụ, kiểm tra đánh giá đang là một vấn đề mới và cũng rất cần thiết trong thời gian tới. Nhưng hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu vấn đề đó. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vì vậy, việc lựa chọn hướng nghiên cứu theo đề tài này mang lại ý nghĩa thiết thực cho việc dạy học môn Toán ở trường THCS nói chung và Số học 6 nói riêng. Cơ sở lý luận về phát triển năng lực cho học sinh trung học cơ sở Khi xã hội phát triển, các cuộc cách mạng công nghiệp nối tiếp nhau ra đời, nền kinh tế tri thức phát triển mạnh.
Trong thời đại của nền kinh tế tri thức như hiện nay - thời đại mà sự phát triển được quyết định bởi trí tuệ và khả năng sáng tạo thì nguồn lực con người là vô cùng quan trọng. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thời đại đặt ra những thử thách rất lớn đối với nhiều quốc gia. Để đảm bảo phát triển bền vững, nhiều quốc gia không ngừng đổi mới giáo dục. Nghị quyết số 29 của Trung ương Đảng (2013) đã tiếp tục khẳng định việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước ta.
Theo Nghị quyết, Bộ Giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo đường lối đổi mới giáo dục Việt Nam là “Chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy học phát triển năng lực người học, tức là phát triển cho HS cả về kiến thức, kĩ năng và thái độ, thay cho cách học thụ động trước đây. Định hướng này đòi hỏi cần phải đổi mới một cách toàn diện cả mục tiêu, nội dung, chương trình, PPDH và đánh giá trong dạy học” [1]. Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực đã được bàn luận nhiều từ cuối thế kỉ 20 và hiện nay nó đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Với nền giáo dục Việt Nam hiện nay, để thay đổi thực trạng học sinh học thụ động, Bộ GD & ĐT đã chỉ rõ các định hướng và cách tiếp cận giúp học sinh phát triển các năng lực, phẩm chất.
Cụ thể, dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018” của Bộ GD & ĐT đã nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành ở học sinh là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Về năng lực, chương trình hướng đến 10 năng lực cốt lõi gồm: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Những năng lực chung, được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo [5]. - Những năng lực chuyên môn, được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu tự nhiên và xã hội, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất [5]. Đặc biệt, theo [5], quan điểm xây dựng chương trình môn Toán trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: “Chương trình môn Toán được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực của người học, đặc biệt năng lực giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, nhằm phát huy tốt nhất tiểm năng của mỗi học sinh.
Như đã nêu ở trên, bản chất của giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực là lấy năng lực làm cơ sở tham chiếu để tổ chức chương trình và thiết kế nội dung học tập. Điều này cũng được hiểu là năng lực của học sinh sẽ là kết quả cuối cùng cần đạt được của quá trình giáo dục. Hay nói cách khác, thành phần cơ bản và cốt lõi của mục tiêu giáo dục là các phẩm chất và năng lực của người học. Năng lực người học được coi là điểm xuất phát và là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục.
Vì vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực người học là yếu tố then chốt trong mục tiêu giáo dục. Do đó ta có thể thấy trong quá trình dạy học ở trường THCS nói chung và quá trình dạy học môn Toán nói riêng, nhiệm vụ phát triển các năng lực cho học sinh trở thành nhiệm vụ quan trọng. Để đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực người học thì GV phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực theo khoa học giáo dục hiện đại vào dạy học nhằm phát triển kiến thức, kĩ năng, thái độ. Đặc biệt trong đó phát triển năng lực nhận thức, phát triển tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tính toán quan trọng hơn bao giờ hết.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số khái niệm cơ bản 1. Năng lực, năng lực toán học, năng lực tính toán a) Năng lực Ngày nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về năng lực và do vậy cũng có rất nhiều khái niệm năng lực khác nhau. Chúng ta có thể xem xét và tiếp cận khái niệm năng lực từ nhiều phương diện khác nhau.
- Theo quan điểm của những nhà tâm lí học: “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt” [20]. - Albert Rutherford cho rằng: “Năng lực là toàn bộ các thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với một hoạt động có lợi ích xã hội nhất định” [17]. - Năng lực theo từ điển Tiếng Việt đó là “khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn” [16]. - Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hoạt động nào đó” [12].
Song song với năng lực là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Tri thức, kĩ năng, kĩ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực nhưng không đồng nhất với năng lực. Năng lực góp phần làm cho quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động được nhanh chóng thuận lợi và dễ dàng hơn. Có năng lực hoạt động tức là có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa là có năng lực trong các lĩnh vực ấy. Như vậy, theo như nghiên cứu của tôi, khái niệm về năng lực có thể rút ra như sau: “Năng lực là toàn bộ những kĩ năng, kĩ xảo học được hay có sẵn của mỗi cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.” 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com b) Năng lực toán học Theo [19], khái niệm năng lực toán học được hiểu theo hai hướng: “Thứ nhất là năng lực trong học tập, tức là năng lực trong việc học môn Toán, nắm vững các khái niệm, định lý, tính chất, hệ quả toán học. Theo hướng này, người học có năng lực toán học sẽ nhanh nhạy trong việc tiếp thu các kiến thức toán học và thực hiện một cách thành thạo các kĩ năng kĩ xảo tương ứng” [19]. “Thứ hai là năng lực hoạt động sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu toán học với tư cách là khoa học.
Người có năng lực sáng tạo toán học sẽ tạo ra những kết quả mới, cống hiến cho nhân loại những công trình toán học đầy ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn của con người và đối với ngành khoa học toán học” [19]. Chúng ta có thể khẳng định rằng năng lực toán học là điều kiện cần của năng lực sáng tạo toán học, bởi vì năng lực sáng tạo toán học có thể xuất phát từ việc tạo ra một định nghĩa hay một định lí mới, điều này hoàn toàn khác với việc hiểu và thừa nhận định nghĩa hay định lí đã có trước đó. Tìm hiểu năng lực toán học với cách nghiên cứu các thành tố, tác giả quan niệm rằng năng lực toán học gồm năm thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán học. Năng lực toán học của học sinh chủ yếu được hình thành và phát triển trong tiến trình: nhận biết kiến thức, kĩ năng toán học; kết nối toán học với đời sống thực tiễn; áp dụng kiến thức, kĩ năng toán học để giải quyết vấn đề cụ thể trong hoạt động hoặc trong cuộc sống hàng ngày.
Mọi học sinh khi đi học đều có năng lực toán học, nhưng năng lực đó được hình thành, thể hiện, phát triển khác nhau thông qua hoạt động học tập 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và trải nghiệm ở mỗi cá nhân. Do đó, giáo viên cần xác định bản chất của năng lực, các con đường hình thành, phát triển năng lực. Từ đó giáo viên lựa chọn các hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; phương pháp, hình thức truyền tải nội dung để đưa vào bài học phù hợp cho mọi đối tượng học sinh. c) Năng lực tính toán “Năng lực tính toán của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ,…phù hợp với lứa tuổi và vận dụng (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống” [18].