Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sá lý luận và thực tián của việc phát trißn năng lực sáng t¿o cho học sinh THPT trong d¿y học vật lí. Chương 3: Tổ chức d¿y học chương <Các định luật bÁo toàn= theo định hướng phát trißn năng lực sáng t¿o cho học sinh trong d¿y học vật lí 10 THPT. Chương 4: Thực nghiệm sư ph¿m.
TÞNG QUAN VÀ VÂN ĐÀ NGHIÊN CĄU 1. Các nghiên cąu vÁ nng lāc và nng lāc sáng t¿o é trong và ngoài n¤åc Hiện nay, đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng với nhiều thuật ngữ tiếng Anh khác nhau như competence, capacity, ability, possibility, literacy. Do đó, khái niệm năng lực được hißu theo nhiều nghĩa khác nhau. Dưới góc độ tâm lý học, năng lực trá thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu trong các công trình của F.
Trong nghiên cứu của mình, F. Ganton cho rằng năng lực có những bißu hiện như tính nh¿y bén, chắc chắn, sâu sắc và dá dàng trong quá trình lĩnh hội một ho¿t động nào đó. Rudich, năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con ngưßi chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xÁo cjng như hiệu quÁ thực hiện một ho¿t động nhất định. Khi xét á góc độ ho¿t động, J.Coolahan cho rằng: năng lực được xem như là <Những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục=.
Báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Châu Âu về việc làm và lao động (2005) đưa ra khái niệm <Năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó=. Như vậy, năng lực luôn bị chi phối bái bối cÁnh cụ thß mà trong đó các năng lực được đòi hỏi. Sự tích hợp của kiến thức, kĩ năng, thái độ sẽ làm nên khÁ năng thực hiện một công việc, một ho¿t động cụ thß. Dưới góc độ của các nhà Giáo dục học, thuật ngữ năng lực cjng được xem xét đa chiều hơn: Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động đã phân tích rõ mối liên quan giữa các khái niệm <Năng lực (competence), kĩ 3 năng (skills) và kiến thức (knowledge), từ đó đã tổng hợp các định nghĩa chính về năng lực trong đó nêu ra: năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thß chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó=.
Theo chương trình giáo dục phổ thông của Quebec – Canada thì <Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định=. Denyse Tremblay (2002), nhà giáo dục học ngưßi Pháp dựa trên cơ sá <học tập suốt đßi= đã quan niệm rằng <Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống=. Từ việc tìm hißu các nghiên cứu về năng lực có thß thấy, quan niệm về năng lực của các tác giÁ tuy còn có sự khác nhau nhất định, song đều có đißm chung thống nhất là nói đến năng lực là nói đến khÁ năng làm được, thực hiện được một công việc, một ho¿t động cụ thß mà không chỉ là biết và hißu. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khoa học sáng t¿o bắt đầu phát trißn dựa trên thành tựu của cách m¿ng khoa học - kĩ thuật.
Cùng lúc này, bên c¿nh các nhà khoa học cơ bÁn thì những chuyên gia về tư duy sáng t¿o cjng như các nhà Tâm lí học bắt đầu nhập cuộc. Từ đây, sáng t¿o mới được nghiên cứu trên cÁ diện rộng và sâu. Từ những nghiên cứu chuyên biệt về sáng t¿o của các nhà toán học, các nhà khoa học khác cjng bắt đầu chuyên tâm khám phá về những nguyên lí của sự sáng t¿o. Đầu tiên là tìm hißu về cách ghi nhớ và cách sáng t¿o, những yếu tố rất quan trọng hình thành năng lực sáng t¿o.
Theo hai chuyên viên não học Jeff Brown và Mark Fenske : <Một trong những phương pháp giúp truy xuất thông tin hiệu quÁ là xây dựng một bộ não ho¿t bát: Thay vì lưu trữ ký ức như một cuốn album hay một đo¿n băng ngắn về những điều từng xÁy ra, ta có thß lưu trữ ký ức mới trong mối tương quan với các ký ức cj, xác định tầm quan trọng của ký ức mới dung n¿p này trong ngữ cÁnh của toàn bộ ký ức đã có trước đó. Ngoài ra, tăng cưßng trÁi nghiệm sống cjng là một lựa chọn tốt, vì bộ não phÁn ứng ho¿t bát hơn với các thông tin hoàn toàn mới, do đó quá trình thu nhận thông tin trá nên nh¿y bén hơn, đồng thßi <nguyên liệu= cho việc truy xuất thông tin cjng dồi dào hơn. Shelley Carson thuộc Đ¿i học Harvard, tác giÁ cuốn sách Bộ não sáng t¿o của b¿n, cjng cho biết tiến trình sáng t¿o không phụ thuộc nhiều vào khÁ năng thiên phú mà chủ yếu vào phong cách tư duy, điều mà mọi ngưßi đều có thß học cách cÁi thiện. Có thß thấy rằng, mặc dù nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng đã tập trung nghiên cứu khá nhiều về sáng t¿o nhưng vẫn còn nặng về tính chất mô tÁ kinh nghiệm chứ không phÁi là thực nghiệm đß rút ra quy luật.
Điều mà thực tián đòi hỏi là phÁi tìm ra những quy luật của sáng t¿o đß có thß lấy đó làm cơ sá điều khißn, phát huy sáng t¿o thì gần như các nhà giáo dục học vẫn chưa giÁi quyết được. Kế thừa những nghiên cứu của các tác giÁ trên thế giới, vấn đề năng lực nhận được sự quan tâm của nhiều tác giÁ trong nước. Cụ thß, Đặng Thành Hưng cho rằng kĩ năng phÁn ánh năng lực làm, tri thức phÁn ánh năng lực nghĩ và thái độ phÁn ánh năng lực cÁm nhận. Tác giÁ nhận định: <năng lực là tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động=.
Tác giÁ Đinh Quang Báo (2013) cho rằng: <năng lực là một thuộc tính tích hợp nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có 4 kết quả tốt đẹp=. Theo Bernd Meier và Nguyán Văn Cưßng thì <năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức=. Tác giÁ đã cho rằng khái niệm năng lực gắn liền với khÁ năng hành động, năng lực hành động là một lo¿i năng lực, nhưng khi nói đến việc phát trißn năng lực ngưßi ta cjng hißu là phát trißn năng lực hành động. Các khái niệm này đều có định hướng đến kết quÁ của các ho¿t động, đó là <hành động có trách nhiệm và đ¿o đức=, <ho¿t động có kết quÁ=.
Đã có các nghiên cứu về năng lực chuyên biệt trong d¿y học môn vật lí á trưßng phổ thông. Tác giÁ Lê Chí Nguyện, tác giÁ Nguyán Thị Thuần trong luận án của mình đã đề xuất khái niệm và cấu trúc năng lực khoa học của học sinh, trình bày các nguyên tắc, biện pháp, quy trình đß bồi dưỡng, phát trißn năng lực khoa học cho học sinh. Từ đó thiết kế các tiến trình tổ chức d¿y học cụ thß đß bồi dưỡng, phát trißn năng lực khoa học cho học sinh á trưßng phổ thông. Trong chuyên khÁo Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, nhóm tác giÁ Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội nêu ra khái niệm: <Năng lực là những khả năng, kĩ xảo học được hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội.
và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt bằng những phương tiện, biện pháp, cách thức phù hợp=. Tác giÁ đã nêu ra hệ thống các năng lực chung và năng lực chuyên biệt (năng lực đặc thù) đối với từng môn học cần hướng đến đß phát trißn, bồi dưỡng cho học sinh á trưßng phổ thông. Có thß thấy, các nghiên cứu trên đều cho rằng năng lực gắn liền với ho¿t động và giá trị thu được của ho¿t động ấy. Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với ho¿t động hoặc quan hệ với một đặc trưng tâm lý nhất định.
Như vậy, quá trình hình thành năng lực phÁi được gắn với luyện tập, thực hành và trÁi nghiệm, nhằm bÁo đÁm thực hiện có hiệu quÁ. Vào cuối thập kỷ 70, những ho¿t động nghiên cứu liên quan đến khoa học về tư duy sáng t¿o á nước ta vẫn chưa phát trißn và mang tính chất tự phát. Mãi đến năm 1977 thì lớp học d¿y về phương pháp luận sáng t¿o mới được tổ chức. Ngưßi có công lớn là Phan Djng với các tác phẩm: Phương pháp luận sáng t¿o Khoa học - Kỹ thuật giÁi quyết vấn đề và ra quyết định; Các nguyên tắc sáng t¿o cơ bÁn; Thế giới bên trong con ngưßi sáng t¿o; Tư duy lôgic biện chứng và hệ thống.
Phan Djng đã vận dụng TRIZ vào tổ chức các lớp học về phương pháp luận sáng t¿o d¿y kĩ năng tư duy sáng t¿o cho mọi ngưßi. Đến nay, hàng ngàn ngưßi với hàng trăm khoá học đã được tổ chức. Năm 1991, Trung tâm sáng t¿o Khoa học - Kỹ thuật được thành lập t¿i Đ¿i học Khoa học Tự nhiên - Đ¿i học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh với mục đích d¿y cho ngưßi bình thưßng trá nên sáng t¿o. Việc nghiên cứu vận dụng TRIZ bồi dưỡng tư duy sáng t¿o cho học sinh trong nhà trưßng phổ thông bước đầu đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu á nước ta.
Nguyán Văn Lê (1998) với "Cơ sá khoa học của sự sáng t¿o" đã trình bày một số cơ sá khoa học của việc giáo dục tính sáng t¿o cho thanh thiếu niên như: Cơ sá tâm lý học của sự sáng t¿o, cơ sá sinh lý thần kinh của ho¿t động sáng t¿o, bài học từ những con ngưßi sáng t¿o.